Ca dao Mẹ

Cùng thể loại:

Có cùng từ khóa:

Chú thích

  1. Hộ
    Nhà cửa (từ Hán Việt).
  2. Hôn
    Lễ cưới, việc cưới hỏi (chứ Hán 昏).
  3. Điền
    Ruộng đất (chữ Hán 田).
  4. Thổ
    Đất đai (từ Hán Việt).
  5. Câu này có ý nói những việc xích mích về nhà cửa, cưới hỏi, ruộng vườn, đất đai sinh ra thù oán muôn đời.
  6. Cách mạng miền Nam ai làm nấy biết
    Chỉ tính chất bí mật, an ninh nghiêm ngặt của phong trào chống Mỹ ở miền Nam trong thời kì đầu chiến tranh Việt Nam.
  7. Nhất trưởng nam, nhì gái út
    Trong số con cái, con trai cả thường được coi trọng nhất, còn con gái út thường được cưng chiều nhất.
  8. Thủ khẩu như bình
    Gốc từ câu nói của Phú Bật đời Tống Thủ khẩu như bình, phòng ý như thành, nghĩa là "giữ miệng như giữ bình, giữ ý như giữ thành." Chỉ sự cẩn trọng trong lời ăn tiếng nói hoặc giữ kín một bí mật nào đó.
  9. Gọi chị thì nhẹ, gọi mẹ thì nặng
    Khi khoảng cách tuổi tác với người phụ nữ chưa đủ lớn để gọi bằng mẹ (cách xưng hô thân mật), nhưng cũng không đủ nhỏ để gọi bằng chị.
  10. Thành hoàng
    Cũng gọi là thần hoàng, vị thần được thờ trong các đình làng ở nước ta, được cho là người phù hộ, giúp đỡ cho làng đó. Thành hoàng có gốc từ chữ Hán: Thành là cái thành, hoàng là cái hào bao quanh cái thành; và khi ghép chung lại thành một từ dùng để chỉ vị thần coi giữ, bảo trợ cho cái thành. Theo sách Việt Nam phong tục, mỗi làng phụng sự một vị Thành hoàng; có làng thờ hai ba vị, có làng thờ năm bảy vị, gọi chung là Phúc Thần. Phúc Thần có ba hạng: Thượng Đẳng Thần, Trung Đẳng Thần và Hạ Đẳng Thần.

    Tượng Thành hoàng

    Tượng Thành hoàng

  11. Miếu
    Trung và Nam Bộ cũng gọi là miễu, một dạng công trình có ý nghĩa tâm linh, tín ngưỡng trong văn hóa nước ta. Nhà nghiên cứu Toan Ánh trong Tín ngưỡng Việt Nam, quyển thượng, cho rằng: Miếu cũng như đền, là nơi quỷ thần an ngự. Miếu nhỏ hơn đền, thường xây theo kiểu hình chữ nhật với hai phần cách nhau bởi một bức rèm, nội điện bên trong và nhà tiền tế bên ngoài… Miếu thường được xây trên gò cao, nơi sườn núi, bờ sông hoặc đầu làng, cuối làng, những nơi yên tĩnh để quỷ thần có thể an vị, không bị mọi sự ồn ào của đời sống dân chúng làm nhộn. Trong miếu cũng có tượng thần hoặc bài vị thần linh, đặt trên ngai, ngai đặt trên bệ với thần sắc hoặc bản sao…

    Miếu Nhị Phủ ở Sài Gòn

    Miếu Nhị Phủ ở Sài Gòn

  12. Đàn ông xem mũi, đàn bà xem miệng
    Nhân tướng học: Mũi đàn ông cao, đầy đặn thể hiện sự giàu có, quyết đoán và tài lộc. Miệng phụ nữ cân đối, đầy đặn, khóe miệng hướng lên cho thấy sự khéo léo, phúc hậu và có duyên.
  13. Mây răng bừa, hai ba bữa thì mưa
    Cũng chẳng phải nhờ ai nói trước, mà do mấy kinh nghiệm học được của mấy cụ già ngư dân vùng biển ngày tôi còn làm nghề đạc điền. Nay thấy chân trời phía đông đã đùn lên những vòm mây thì sực nhớ câu: "Mây răng bừa, hai ba bữa thì mưa" nên tôi đưa khách đi xem lăng tẩm trước. (Hồi kí nhà văn Thanh Tịnh)
  14. Việc chi bức thì bức chớ việc cứt thì phải đi
    Khi mót đại tiện thì không gì cản được.
  15. Thơ
    Thư (phương ngữ Trung và Nam Bộ).
  16. Bạch
    Màu trắng (chữ Hán).
  17. Cơ hàn
    Đói (cơ 飢) và lạnh (hàn 寒). Chỉ chung sự nghèo khổ cơ cực.

    Bạn ngồi bạn uống rượu khan
    Tôi ngồi uống nỗi cơ hàn bạn tôi!

    (Gặp bạn ở chợ Bến Thành - Hoàng Đình Quang)

  18. Nho sĩ
    Người theo học chữ Nho, đạo Nho. Thường dùng để chỉ học trò thời xưa.
  19. Hun
    Hôn (khẩu ngữ Trung và Nam Bộ).
  20. Có bản chép: Thì tui la xóm hai đàng la chung.
  21. Hung
    Dữ, quá (phương ngữ Trung và Nam Bộ).
  22. Nhơn cùng tắc biến
    Người gặp lúc lúc nguy khốn, tất sẽ nghĩ ra cách để ứng phó (thành ngữ Hán Việt).
  23. Chun
    Chui (phương ngữ).
  24. Bậu
    Cũng nói là em bậu, tiếng gọi người tiếp chuyện với mình, khác giới tính, có ý thương mến, thân mật. Cách xưng hô "qua, bậu" thường được dùng trong quan hệ vợ chồng, người yêu (phương ngữ Nam Bộ).