Thân em như giấy nửa tờ
Chớ nghi mà tội, chớ ngờ mà oan
Thân em như giấy nửa tờ
Dị bản
Em như giấy mỏng một tờ
Đừng nghi mà tội, đừng ngờ mà oan
Thân em như giấy nửa tờ
Chớ nghi mà tội, chớ ngờ mà oan
Em như giấy mỏng một tờ
Đừng nghi mà tội, đừng ngờ mà oan
Sang chơi thì cứ mà sang
Đừng bắt dọn đàng mà nhọc lòng dân
Gió đưa con buồn ngủ lên bờ
Đừng cho nó xuống, nó rờ mắt tôi
Gió đưa con buồn ngủ lên bờ
Mùng ai có rộng, xin ngủ nhờ một đêm
Đêm nay trăng sáng lờ mờ
Mùng ai có rộng ngủ nhờ một đêm
Yêu ai yêu hẳn một người
Đừng như ăn cỗ lắm nơi nhiều phần
Anh về mắc võng ru con
Đừng nên tơ tưởng trái chanh non trái mùa
Ra về dặn bạn một hai
Đừng có khi thắm khi phai tủi lòng
Tai nghe súng bắn cái đùng
Cò chim bay hết anh hùng bơ vơ
Tình về tình lại sang liền
Tính đừng đi lại tốn tiền đò ngang
Cửa quyền con bướm lăng xăng
Biểu đừng rộn rực mà trăng xa đèn
Trong lịch sử, đã có giai đoạn Thanh Hóa được gọi là Thanh Hoa. Nhưng đến thời nhà Nguyễn, do kị húy với tên vương phi Hồ Thị Hoa mà tên tỉnh được đổi thành Thanh Hóa cho đến nay.
Thanh Hóa có nhiều danh lam thắng cảnh và lịch sử nổi tiếng như Vườn quốc gia Bến En, suối cá thần Cẩm Lương, bãi biển Sầm Sơn, khu di tích Lam Kinh, cầu Hàm Rồng... Đây cũng là nơi địa linh nhân kiệt, là quê hương của các nhân vật lịch sử nổi tiếng như Dương Đình Nghệ, Lê Hoàn, Lê Lợi, các chúa Trịnh, Nguyễn...
Hoành qua đương hổ dị
Đối diện Bà vương nan
(Vung giáo chống cọp dễ
Giáp mặt vua Bà khó)
Theo Việt Nam sử lược, sau khi cuộc khởi nghĩa thất bại, Bà Triệu đã tuẫn tiết trên núi Tùng (xã Triệu Lộc, huyện Hậu Lộc, Thanh Hóa) vào năm Mậu Thìn (248), lúc mới 23 tuổi.
Về tên gọi, "bộ" đây có nghĩa là diễn xuất của nghệ sĩ đều phải phân đúng từng bộ diễn, nên gọi là "hát bộ", "diễn bộ", "ra bộ.. Gọi là “hát bội” là vì trong nghệ thuật hóa trang, đào kép phải đeo, phải giắt (bội) những cờ phướng, lông công, lông trĩ… lên người. Còn "tuồng" là do chữ "Liên Trường" (kéo dài liên tiếp thành một vở tuồng tích có khởi đầu truyện, có hồi kết cuộc, phân biệt với các ca diễn từng bài ngắn, từng trích đoạn), do ngôn ngữ địa phương mà thành "luông tuồng," "luôn tuồng..."
Xem vở hát bội Thần nữ dâng Ngũ Linh Kỳ.
Người xưa có phong tục mời ăn trầu khi gặp nhau. Trầu cau tượng trưng cho tình yêu đôi lứa, vợ chồng, nên là một lễ vật không thể thiếu trong các dịp cưới hỏi.
Nghe nghệ sĩ nhân dân Thu Hiền hát bài Hoa cau vườn trầu.
Trong ca dao - dân ca, đạo cang thường thường dùng để chỉ tình cảm vợ chồng.