• Vè Cần vương

    Vâng lời troàn ngươn soái
    Mình đeo ấn Tổng nhung
    Lời khuyên rao chư sĩ anh hùng
    Mặt phải trái coi qua thời biết
    Mình là con trong đất Việt
    Chẳng phải người sanh sản cõi Tây phiên
    Mà ham di địch tước quyền
    Lại nỡ khiến tấm lòng vô hậu
    Chớ bắt chước những loài quân dậu
    A dua hùa lưng lớn thờ chồn
    Đừng bày theo những đảng ác côn
    Ngưỡng mặt dọc mượn hơi lũ cáo
    Người Nam bang hữu đạo
    Chúa minh quân ơn đức đã trôi dầm
    Hai mươi năm trường trị cửu yên
    Dành dụm nghiệp Nam triều ba mươi tỉnh
    Ngưỡng xem đức hoá ra ơn Thuấn
    Đã lâm nhuần thiên hạ gội nhơn Nghiêu
    Rưới khắp cả muôn dân
    Bắc Nam cúi mặt xưng thần
    Tứ hải cúi đầu cống lễ
    Thưởng trăm họ ghe lòng lớn bé
    Vua ta đều tha thuế
    Cám muôn dân ruộng khô hư phế
    Canh điền vua cũng tha phô
    Ba năm dư thẩm xét tù đồ
    Lai miễn tử xá sanh nhơn chánh
    Ấy ví tề thương hải
    Còn những người thất thập tuần dư
    Ngoài thời yến diên ban, trong lụa vải cũng ban
    Còn những người cô độc, với những kẻ bần hàn
    Xuất phủ huyện chẩn bần, chẩn tế
    Còn năm hung dịch tễ
    Vua ta cũng ban ân
    Phát tiền tuất thân mai táng

    Ớ các làng xã ơi
    Bay ngưỡng mặt theo Tây cho đáng
    Nỡ lòng nào phản nghịch cho yên tâm?
    Mả Nguỵ Khôi sao hỡi còn lầm?
    Bài trung nghĩa, miễu công thần, sao bây không tưởng?
    Trên đầu có hai bên hai vác
    Làm việc chi trời đất cũng hay
    Ngửa xem thần còn ở trên vai
    Để biên chép người trong dương thế
    Tội nào trọng bằng tội phản quân phế đế
    Hình nào to bằng hình đứa gian thần
    Tiếc của tiền sao chẳng tiếc thân?
    Thân danh trọng, của tiền mấy trọng?
    Vua thời dụng thánh đời, người dụng hiền
    Dụng là dụng những kẻ tài trí kinh quyền
    Dùng những kẻ trung quân ái quốc
    Làm tôi con phải đền ngọn rau, tấc đất
    Thời mới xong cái nợ tang bồng
    Sao bình thời múa mặt xưng hùng
    Cơn bác loạn kinh tâm tán loạn?

    Ớ các quan viên ơi!
    Lũ nào mến, lũ ta xin đừng mến
    Bọn nào kinh, bọn mình hỡi chớ kinh
    Nguyền gắng sức đền ơn cho quân thượng
    Trời đã sanh có binh thời có tướng
    Binh tướng phải hết lòng
    Trời đã sanh có chúa lại có tôi
    Niềm tôi chúa sao cho hết dạ
    Khéo chỉ chọ cho mã tà khuấy khoả!
    Mưu thày lay ai mượn phá luỹ bờ?
    Phận làm tôi chẳng trọn một thờ
    Không thương hại lại đam thói bạc!
    Miệng niệm liến Quan Âm Bồ Tát
    Lòng u ơ tưởng chúa Du De
    A men, bát nhã khéo xô bồ
    Thập ác, tràng phạn xui lộn lạo!
    Nhà nghèo mới biết con rằng thảo
    Nước rằng nguy, tôi chúa dạ biết ngay
    Nên hư có một hội nầy
    Sống thác cho tường mới tận
    Hễ phận làm nam tử
    Phải trả nợ quân ân
    Hễ phận làm con dân
    Phải đền ơn thuỷ thổ
    Kìa là tông, nọ là tổ
    Tông tổ ở đất nào?
    Kìa là mẹ, nọ là cha
    Cha mẹ đẻ, sao không đánh liệt?

    Ớ bọn phản nghịch ơi!
    Mình là con trong đất Việt
    Chẳng phải người sanh sản giống Tây di
    Nó là chi, nó dám tới đây?
    Ta là chi, mà làm thinh ngồi vậy?
    Ở đâu mà không thấy?
    Loài mọi nó bất nhơn!
    Tổng Định Thành chùa miễu phá tan hoang
    Đồng tập trận mả mổ đào sạch quét!
    Sao bây không biết xét?
    Khiến dạ vô tình!
    Chẳng thương tấm tượng sàng linh
    Nở bỏ vùa hương trước án!
    Nghĩ giận cho đáng
    Hay ghét bỏ cho ưng!
    Người ở đời lấy giặc làm hưng
    Gầm đầu thú lấy Tây làm mạnh
    Khá tua tu tỉnh
    Cải ác tùng trung
    Rất đỗi man di còn có một lòng
    Huống chi ta là người trung quốc mà không gan ruột?
    Đồn Bà Quẹo phản hồi chưa bên cuộc
    Cũng vì quan, cũng vì quân không dạ cần vương
    Lũy Mĩ Quí hoài đao thương
    Cũng vì tướng, cũng vì binh không lòng nghĩa khí!
    Chữ quân thần là đạo nghĩa
    Phận làm nam tử phải trả nợ cho quân vương
    Thà là nguyền ra giữa chốn chiến trường
    Nhứt là nó, nhứt là ta
    Đồng đánh liệt cho Tây di biết mặt!
    Gẫm âu thế tình thậm ngặt
    Vịnh râu dê làm mặt tài khôn
    Tiếc cơm nước vua nuôi các gã
    Mồ tổ phụ, cuộc táng chôn
    Cho dài cửu họ, cho lớn tông môn
    Đặng dương dương theo loài bất nghĩa
    Tiếc cơm nước vua nuôi các ngươi
    Thân cho dài, hình cho lớn, vóc cho cao
    Theo loài Tây giặc, lấn Nam trào
    Tám mươi kiếp, những loài vô hậu
    Chữ “Thiên võng khôi khôi, sơ nhi bất lậu”
    Câu “Châu nhi phục thể, thiên địa tuần hường”
    Bình rồi đây ơn cũng thấy ơn
    Trị rồi đây oán thời thấy oán!
    Mặt đứa gian thần xem cho hãn
    Danh người trung nghĩa thấy cũng tường
    Nguyện ngàn năm để tiếng “Cần Vương”
    Thề muôn thuở chẳng nhơ danh đất Việt.

  • Bình luận

Cùng thể loại:

  • Giữa năm Đinh Dậu mới rồi

    Giữa năm Đinh Dậu mới rồi
    Sư ông chùa Lãng là người đảm đang
    Viết tờ quyên giáo các làng
    Lãng Đông, Năng Nhượng chuyển sang Trực Tầm
    Chiều hôm còn ở Đồng Xâm
    Rạng mai Đắc Chúng, tối tầm Dục Dương
    Cùng với nghĩa sĩ bốn phương
    Phất cờ thần tướng mở đường thiên binh
    Phá dinh công sứ Thái Bình
    Sa cơ ông đã bỏ mình vì dân.

  • Thơ thằng Lía

    (Tục gọi Dương Doan Văn Lía – Cử Hoành Sơn soạn)

    Ngàn năm dưới bóng thái dương,
    Biết bao là sự lạ thường đáng ghi,
    Noi nghề hàng mặc bấy nay,
    Một pho dị sự vắn dài chép ra.
    Trước là giải muộn ngâm nga,
    Sau nêu gương nọ đặng mà soi chung.
    Xưa kia có một phú ông,
    Vợ chồng chuyên một nghề nông nuôi mình,
    Bấy lâu loan phụng hòa minh,
    Xóm làng kiêng nể tánh tình thiện lương.
    Tuy là sành sỏi ruộng nương,
    Ông bà xấu số gặp đường chẳng may,
    Thuở trước cũng chẳng thua ai,
    Tiền dư bạc sẵn tháng ngày thung dung,
    Ruộng vườn khai khẩn khắp cùng,
    Thôn lân đều thảy có lòng bợ nâng.
    Đến nay nhằm buổi lao lung,
    Ruộng nương thất phát vô cùng thảm thương,
    Tháng ngày khổ hại trăm đường,
    Bảy năm chịu sự tai ương nguy nàn,
    Bấm gan cam chịu gian nan,
    Vợ chồng đau đớn đoạn tràng thiết tha.
    Lần hồi ngày lụn tháng qua,
    Nghèo nàn túng tíu gẫm đà thói quen,
    Thét rồi cũng chẳng than phiền,
    Cắn răng mà chịu đảo điên qua hồi.
    Lão mụ tuổi đã lớn rồi,
    Vợ bốn mươi chẵn chồng thời bốn ba,
    Đêm ngày lo tính gần xa,
    Chẳng con kế tự thật là đáng lo,
    Choanh ngoảnh chồng vợ đơn cô,
    Tuổi già sức yếu biết nhờ cậy ai?

  • Vè bình dân học vụ

    Lẳng lặng mà nghe
    Cài vè học vụ
    Đồng bào mù chữ
    Ở khắp mọi nơi
    Chiếm chín phần mười
    Toàn dân đất Việt
    Muôn bề chịu thiệt
    Chịu đui, chịu điếc
    Đời sống vùi dập
    Trong vòng nô lệ
    Hơi đâu mà kể
    Những sự đã qua
    Chính phủ Cộng hòa
    Ngày nay khác hẳn
    Đêm ngày lo lắng
    Đến việc học hành
    Mấy triệu dân lành
    Còn đương tăm tối
    Bị đời hất hủi
    Khổ nhục đáng thương
    Ngơ ngác trên đường
    Như mù không thấy
    Những điều như vậy
    Không thể bỏ qua

  • Vè chàng Lía

    Lía ta nổi tiếng anh hào
    Sơn hà một góc thiếu nào người hay
    Bạc tiền thừa đủ một hai
    Chiêu binh mãi mã càng ngày càng đông
    Làm cho bốn biển anh hùng
    Mến danh đều tới phục tùng chân tay.
    Kẻ nào tàn ác lâu nay
    Lía sai cướp của đoạt tài chẳng dung
    Nhà giàu mấy tỉnh trong vùng
    Thảy đều kinh sợ vô cùng lo toan
    Nhất nhì những bực nhà quan
    Nghe chàng Lía doạ kinh hoàng như điên
    Nhà nào nhiều bạc dư tiền
    Mà vô ân đức, Lía bèn đoạt thâu.
    Tuy chàng ở chốn non đầu
    Nhưng mà lương thực vật nào lại không
    Lâu la ngày một tụ đông
    Vỡ rừng làm rẫy, vun trồng bắp khoai
    Mọi người trên dưới trong ngoài
    Thảy đều no đủ sớm trưa an nhàn
    Tiếng tăm về đến trào đàng
    Làm cho văn võ bàng hoàng chẳng an.
    Nam triều chúa ngự ngai vàng
    Bá quan chầu chực hai hàng tung hô
    Có quan ngự sử bày phô
    Tâu lên vua rõ lai do sự tình
    Đem việc chàng Lía chiêu binh
    Trình lên cặn kẽ phân minh mọi đàng
    Nào khi Lía phá xóm làng
    Đến khi lên núi dọc ngang thế nào
    Kể tên những bậc phú hào
    Từng bị quân Lía đoạt thâu gia tài
    Vua ngồi nghe rõ một hai,
    Đập bàn, vỗ án giận rày thét la:
    – Dè đâu có đứa gian tà
    Giết người, đoạt của thiệt là khó dung
    Truyền cho mười vạn binh hùng
    Dưới cờ đại tướng binh nhung lên đàng
    Đại quân vâng lệnh Nam hoàng
    Hành quân tức khắc thẳng đàng ruổi dong
    Gập ghềnh bao quản núi non
    Dậy trời sát khí quân bon lên rừng.

  • Vè lính mộ

    Tai nghe nhà nước mộ dân,
    những lo những sợ chín mười phần em ôi.
    Anh đi ra mặt biển chưn trời,
    ơn cha nghĩa mẹ hai nơi chưa đền.
    Dầu mà ông Tây bắt làm phên,
    nhất thắng nhì bại, không quên cái nghĩa sinh thành.
    Xót em vò võ một mình,
    anh đi ra biển thẳm non xanh tư bề.
    Vai mang khẩu súng lưng dắt lưỡi lê,
    thôi thiếp bồng con dại lui về mần ăn.
    Ví dầu anh có mần răng,
    nơi mô xứng gió vừa trăng em đành.
    Phận chàng vạn tử nhứt sanh,
    trên thời mây đen kịt, dưới nước xanh dờn dờn.
    Tư bề sóng bể như sơn,
    đau lòng xót dạ nhiều cơn lắm bớ nàng.
    Trăm lạy ông trời đặng chữ bình an,
    đóng lon chức Đội về làng hiển vinh.
    Làm thịt con heo quy tế tại đình,
    rượu chè chàng đãi dân tình một diên.
    Tay bắt tay miệng lại hỏi liền:
    anh đi ra mấy tháng em có phiền hay không.
    Bảy giờ mai bước xuống tàu đồng,
    tối tăm mù mịt như rồng với mây.
    Hai bên những lính cùng Tây,
    quân gia kéo tới chở đầy tàu binh…

  • Vè đội Cấn

    Năm Đinh Tỵ mười ba tháng bảy
    Nước Nam mình phút dậy can qua
    Thái Nguyên nay có một tòa
    Khố xanh, khố đỏ được ba trăm người
    Cũng chí toan chọc trời khuấy nước
    Ông Đội ra đi trước cầm binh
    Rủ nhau lập tiểu triều đình
    Những là cai đội khố xanh bằng lòng
    Duy phó quản bất tòng quân lệnh
    Hóa cho nên hủy mệnh xót xa
    Sai người mở cửa nhà pha
    Đem tù ra điểm được là bao nhiêu?
    Truyền tù nhân cứ theo quân lệnh
    Chớ thị thường uổng mệnh như chơi
    Rồi ra làm lễ tế trời
    Cờ đề “Phục Quốc” tài bồi Nam bang

  • Vè Đông Kinh

    Cơn mây gió trời Nam bảng lảng
    Bước anh hùng nhiều chặng gian truân
    Ngẫm xem con tạo xoay vần
    Bày ra một cuộc duy tân cũng kì
    Suốt thân sĩ ba kì Nam Bắc
    Bỗng giật mình sực thức cơn mê
    Học, thương, xoay đủ mọi nghề
    Cái hồn ái quốc gọi về cũng mau
    Hồn đã tỉnh, bảo nhau cùng dậy
    Chưa học bò vội chạy đua theo
    Khi lên như gió thổi diều
    Trong hò xin thuế, ngoài reo hãm thành
    Cách hoạt động người mình còn dại
    Sức oai quyền ép lại càng mau
    Tội nguyên đổ đám nho lưu
    Bắc kì thân sĩ đứng đầu năm tên

Có cùng từ khóa:

Chú thích

  1. Troàn
    Truyền.
  2. Ngươn soái
    Nguyên soái (phương ngữ Nam Bộ).
  3. Tổng nhung
    Vị quan võ thống lĩnh toàn bộ việc quân của một địa phương.
  4. Thời
    Thì. Xưa vì kị húy vua Tự Đức (Nguyễn Phúc Thì) nên chữ này được đọc chạnh đi thành "thời."
  5. Sanh sản
    Sinh sản.
  6. Thổ Phồn
    Cũng gọi là Thổ Phiên, Thổ Phiền hoặc Phiên, tên mà người Trung Quốc từ thời nhà Đường dùng để gọi một vương quốc thống trị vùng Tây Tạng từ khoảng thế kỷ thứ 6 đến thế kỷ thứ 9.
  7. Di địch
    Mọi rợ, chưa khai hóa. Người Trung Hoa thời cổ cho rằng nước mình ở giữa thế giới, gọi các dân tộc xung quanh họ, chưa tiếp thu văn hóa Trung Hoa, là Man (ở phía nam), Di (ở phía đông), Nhung (ở phía tây), Địch (ở phía bắc).
  8. Ác côn
    Đứa vô lại, hung dữ.
  9. Hữu đạo
    (Sống) có đạo lí, theo đạo nghĩa.
  10. Minh quân
    Từ Hán Việt, nghĩa là vua sáng. Từ minh quân dành để chỉ những vị vua hiền, thương dân dưới thời phong kiến.
  11. Kể từ lúc vua Tự Đức lên ngôi (1847) cho đến khi Pháp chiếm ba tỉnh miền Tây Nam Kì (1867) là vừa đúng hai mươi năm.
  12. Ba mươi tỉnh
    Nước Việt Nam vào thời Cần Vương gồm cả thảy ba mươi tỉnh.
  13. Thuấn, Nghiêu
    Vua Thuấn và vua Nghiêu, hai vị vua kế tiếp nhau trong huyền sử Trung Hoa cổ. Tương tuyền rằng đây là hai vị minh quân và thời Nghiêu Thuấn được coi là thời thái bình an lạc.
  14. Ghe
    Nhiều (từ cổ).
  15. Miễn tử xá sanh
    Miễn tội chết, tha tội sống (thành ngữ Hán Việt).
  16. Thương hải
    Biển xanh. Ý nói đức nhân rộng như biển.
  17. Thất thập tuần dư
    Ngoài bảy mươi tuổi.
  18. Chẩn bần, chẩn tế
    Giúp đỡ, cứu vớt những người đói khổ, côi cút.
  19. Hung
    Dữ, quá (phương ngữ Trung và Nam Bộ).
  20. Dịch tễ
    Các loại bệnh dịch.
  21. Tuất thân
    Vì xót thương mà chẩn cứu.
  22. Bài vị
    Thẻ bằng giấy hoặc gỗ mỏng có ghi tên tuổi, chức vụ người đã khuất, để thờ cúng.

    Bài vị những chiến sĩ Hải đội Hoàng Sa đã hi sinh

    Bài vị những chiến sĩ Hải đội Hoàng Sa đã hi sinh

  23. Miếu
    Trung và Nam Bộ cũng gọi là miễu, một dạng công trình có ý nghĩa tâm linh, tín ngưỡng trong văn hóa nước ta. Nhà nghiên cứu Toan Ánh trong Tín ngưỡng Việt Nam, quyển thượng, cho rằng: Miếu cũng như đền, là nơi quỷ thần an ngự. Miếu nhỏ hơn đền, thường xây theo kiểu hình chữ nhật với hai phần cách nhau bởi một bức rèm, nội điện bên trong và nhà tiền tế bên ngoài… Miếu thường được xây trên gò cao, nơi sườn núi, bờ sông hoặc đầu làng, cuối làng, những nơi yên tĩnh để quỷ thần có thể an vị, không bị mọi sự ồn ào của đời sống dân chúng làm nhộn. Trong miếu cũng có tượng thần hoặc bài vị thần linh, đặt trên ngai, ngai đặt trên bệ với thần sắc hoặc bản sao…

    Miếu Nhị Phủ ở Sài Gòn

    Miếu Nhị Phủ ở Sài Gòn

  24. Hai bên vai vác
    Tục tin rằng mỗi người đều có hai vị thần ngự hai bên vai, ghi chép mọi lời nói, hành động, việc làm phải trái nhằm giúp thưởng thiện phạt ác từng con người.
  25. Phản quân
    Phản lại vua.
  26. Phế đế
    Dùng vũ lực bắt vua phải từ bỏ ngai vàng. Vua bị bắt từ bỏ ngai vàng cũng gọi là phế đế.
  27. Tang bồng
    Cung bằng gỗ dâu (tang) và tên bằng cỏ bồng. Theo Kinh Lễ, khi nhà vua sinh con trai, quan coi việc bắn sẽ lấy cung bằng gỗ dâu và tên bằng cỏ bồng, bắn bốn phát ra bốn hướng, một phát lên trời, một phát xuống đất, ngụ ý rằng người làm trai chí ở bốn phương, tung hoành trời đất, giúp nước giúp đời. Chí làm trai vì thế gọi là chí tang bồng.
  28. Mã tà
    Lính cảnh sát thời thuộc địa. Nguồn gốc của từ này đến nay vẫn chưa thống nhất. Có ý kiến cho rằng từ này có gốc từ tiếng Mã Lai là mata-mata, có nghĩa là "cảnh sát," lại có người cho rằng xuất xứ từ này là matraque, tiếng Pháp nghĩa là cái dùi cui.
  29. Liến
    Liên tục.
  30. Quan Âm bồ tát
    Quan Âm, Quan Thế Âm, Quán Âm, Phật Bà đều là các tên gọi khác nhau của Quán Thế Âm, một trong những vị Bồ Tát quan trọng nhất trong Phật giáo Đại thừa. Theo đạo Phật cũng như dân gian, Quan Âm có hình hài của một người phụ nữ, gương mặt hiền lành phúc hậu, đứng hoặc ngồi xếp bằng trên tòa sen, tay cầm bình nước cam lồ, thường hiện ra để cứu khổ cứu nạn - vì vậy những người gặp nạn thường niệm "Nam mô Quan Thế Âm bồ tát." Một số tài liệu, hình vẽ và tượng lại mô tả Quan Âm là một vị phật có nghìn mắt, nghìn tay để quán xuyến việc thế gian.

    Quan Thế Âm bồ tát

    Quan Thế Âm bồ tát

  31. Tưởng
    Nghĩ đến (từ Hán Việt).
  32. Thánh Giuse
    Hay còn gọi là thánh Joseph, một vị thánh của Kitô giáo. Thánh Giuse là chồng của Đức Mẹ Đồng Trinh Maria, mẹ của Chúa Giêsu (Jesus). Theo kinh Tân ước Matthew:

    "Sau đây là gốc tích Ðức Giêsu Kitô: bà Maria, mẹ Người, đã thành hôn với ông Giuse. Nhưng trước khi hai ông bà về chung sống, bà đã có thai do quyền năng Chúa Thánh Thần. Ông Giuse, chồng bà, là người công chính và không muốn tố giác bà, nên mới định tâm bỏ bà cách kín đáo. Ông đang toan tính như vậy, thì kìa sứ thần Chúa hiện đến báo mộng cho ông rằng: "Này ông Giuse, là con cháu Ðavít, đừng ngại đón bà Maria vợ ông về, vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần. Bà sẽ sinh con trai và ông phải đặt tên cho con trẻ là Giêsu, vì chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ."

    Thánh Giuse với hài nhi Giê-xu, tranh của Guido Reni

    Thánh Giuse với hài nhi Giêsu, tranh của Guido Reni

  33. Amen
    Một từ Do Thái, thường được các tín đồ Công giáo sử dụng để kết thúc lời cầu nguyện để tỏ lòng mong ước, mong muốn được như vậy.
  34. Bát nhã
    Một khái niệm trung tâm của Phật giáo Đại thừa, có nghĩa là trí tuệ nhưng không phải do suy luận hay kiến thức đem lại, mà là thứ trí tuệ của sự hiểu biết một cách toàn triệt, không mâu thuẫn. Đây là phiên âm Hán Việt của Prajñā प्रज्ञा trong tiếng Sanskrit.
  35. Thập ác
    Tên gọi khác của thập giá (thánh giá), biểu tượng của Kitô giáo, nhưng mang ý miệt thị.

    Chúa Jesus bị đóng đinh câu rút trên thập giá

    Chúa Jesus bị đóng đinh câu rút trên thập giá

  36. Đánh liệt
    Đánh cho la lết, liệt bại không trỗi dậy được.
  37. Bất nhơn
    Bất nhân (cách nói của miền Trung và miền Nam), không có tính người, tàn ác. Từ này cũng được dùng với mục đích than vãn, ta thán.
  38. Tống Định Thành
    Một địa danh ngày xưa thuộc huyện Đông Xuyên, tỉnh An Giang.
  39. Đồng Tập Trận
    Một cánh đồng rộng lớn nằm về phía tây bắc thành Gia Định, có nhiều mồ mả, vốn là nơi chôn người chết. Đầu thế kỉ 19, tổng trấn Gia Định Thành là Lê Văn Duyệt sử dụng nơi đây để huấn luyện và diễn tập quân đội, nên cánh đồng có tên là đồng Tập Trận. Vị trí cánh đồng hiện nay nhằm khoảng đại lộ Lê Thái Tổ, bao gồm phần lớn quận 10 và một phần quận 3, Thành Phố Hồ Chí Minh. Do ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa, các di tích, mồ mả hầu như không còn.
  40. Vùa hương
    Bát để cắm hương (nhang) trên bàn thờ.

    Sống làm chi theo quân tả đạo, quăng vùa hương, xô bàn độc, thấy lại thêm buồn;
    sống làm chi ở lính mã tà, chia rượu lạt, gặm bánh mì, nghe càng thêm hổ.

    (Văn tế nghĩa sĩ Cần Guộc - Nguyễn Đình Chiểu)

  41. Tua
    Nên, phải (từ cổ).
  42. Cải ác tùng trung
    Sửa điều ác, theo điều trung nghĩa.
  43. Trung quốc
    Đất nước ở giữa, thường dùng để chỉ Trung Hoa. Người Trung Hoa xưa cho rằng nước Trung Hoa ở chính giữa thế giới, là nước văn minh nhất, các dân tộc xung quanh đều là man di mọi rợ kém văn minh. Giới sĩ phu Việt Nam dùng từ "Trung Quốc" với nghĩa đất nước có nền văn hiến Nho giáo, đối lập với các nền văn hóa phi Nho giáo khác.
  44. Năm 1862, nghĩa quân của Trần Văn Thành tấn công quân Pháp để lấy lại đồn Bà Quẹo nhưng không thành.
  45. Cần Vương
    Nghĩa là "Dốc sức vì vua," tên gọi một phong trào khởi nghĩa vũ trang của giới văn thân, sĩ phu Việt Nam cuối thế kỉ 19, nêu danh nghĩa giúp nhà vua đánh đuổi quân Pháp xâm lược, đặc biệt là giai đoạn sau khi Tôn Thất Thuyết nhân danh vua Hàm Nghi ra chiếu Cần Vương (năm 1885). Năm 1888, Hàm Nghi bị bắt và đày sang Alger, phong trào suy yếu dần. Từ cuối năm 1895 đầu 1896, khi cuộc khởi nghĩa Hương Khê của Phan Đình Phùng thất bại, phong trào Cần Vương coi như chấm dứt.
  46. Lũy Mĩ Quí
    Một cái lũy đắp bằng đất tại Mĩ Quí, Định Tường (một tỉnh cũ thuộc miền Tây Nam Bộ, nay là địa phận các tỉnh Tiền Giang, Đồng Tháp và Bến Tre) để ngăn giặc, sau khi Pháp chiếm được Sài Gòn và Biên Hoà. Lũy rất kiên cố, nhưng cũng bị thất thủ trong năm 1862.
  47. Quân thần
    Đạo vua tôi, một trong tam cương theo quan niệm Nho giáo về đạo lí thời phong kiến.
  48. Thiên võng khôi khôi, sơ nhi bất lậu
    Lưới trời lồng lộng, thưa mà không lọt.
  49. Châu nhi phục thể, thiên địa tuần hườn
    Trời đất xoay vần, giáp vòng rồi cũng trở lại chỗ cũ.
  50. Hãn
    Rõ ràng, chắc chắn (cổ ngữ, phương ngữ Nam Bộ).

    Trước sau chưa hãn dạ này
    Hai nàng ai tớ, ai thầy nói ra?

    (Lục Vân Tiên - Nguyễn Đình Chiểu)

  51. Tường
    Rõ ràng, hiểu rõ, nói đủ mọi sự không thiếu tí gì. Như tường thuật 詳述  kể rõ sự việc, tường tận 詳盡  rõ hết sự việc (Thiều Chửu).
  52. Bài "Vè Cần Vương" này nói về cuộc khởi nghĩa Bảy Thưa (1867 - 1873) của Quản cơ Trần Văn Thành chống lại giặc Pháp. Năm 1867, sau khi tỉnh An Giang mất, Quản cơ Thành không chịu hàng Tây theo lệnh của Phan Thanh Giản mà ông rút quân khỏi tỉnh thành, lập căn cứ ở vùng Bảy Thưa chống lại. Cuộc khởi nghĩa kéo dài đến năm 1873 thì thất bại, Quản cơ Thành mất tích. Bài vè này được coi như một bản bá cáo xuất quân của đạo "Binh Gia Nghị" mà Quản cơ Thành là chủ tướng.
  53. Tức năm 1897.
  54. Chùa Lãng Đông
    Tên một ngôi chùa ở thôn Lãng Đông, nay thuộc địa phận xã Trà Giang, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình. Chùa được xây dựng vào khoảng cuối thế kỉ 19, đầu thế kỉ 20. Tại chùa này vào năm 1897 đã nổ ra cuộc khởi nghĩa chống Pháp do trụ trì là thiền sư Thích Thanh Thụ khởi xướng.

    Tam quan chùa Lãng Đông

    Tam quan chùa Lãng Đông

  55. Quyên giáo
    Kêu gọi quyên góp về tiền của và công sức để làm những công việc liên quan đến đạo Phật.
  56. Năng Nhượng
    Tên một xã trước đây thuộc tổng Đồng Xâm, phủ Kiến Xương, tỉnh Thái Bình, nay thuộc xã Trà Giang, huyện Kiến Xương.
  57. Trực Tầm
    Một xã trước đây thuộc tổng Đồng Xâm, phủ Kiến Xương, tỉnh Thái Bình, nay thuộc xã Trà Giang, huyện Kiến Xương.
  58. Đồng Xâm
    Một làng nằm ở phía Bắc của huyện Kiến Xương, thuộc xã Hồng Thái, tỉnh Thái Bình. Làng có nghề chạm bạc truyền thống. Hằng năm làng tổ chức lễ hội vào các ngày 1-5 tháng 4 âm lịch.

    Chạm bạc ở Đồng Xâm

    Chạm bạc ở Đồng Xâm

  59. Đắc Chúng
    Tên một làng trước đây thuộc tổng Đồng Xâm, phủ Kiến Xương, tỉnh Thái Bình, nay thuộc xã Quốc Tuấn, huyện Kiến Xương.
  60. Dục Dương
    Một làng trước đây thuộc tổng Đồng Xâm, phủ Kiến Xương, tỉnh Thái Bình, nay thuộc xã Trà Giang, huyện Kiến Xương.
  61. Nghĩa sĩ
    Người anh dũng dấn thân vì việc nghĩa.
  62. Thiên binh, thần tướng
    Binh lính (của) trời, tướng (là) thần. Chỉ quân đội mạnh mẽ, anh dũng.
  63. Công sứ
    Chức danh cai trị của người Pháp trong thời kì Pháp thuộc, đứng đầu một tỉnh.
  64. Thái Bình
    Địa danh nay là một tỉnh ven biển ở đồng bằng Bắc Bộ, cách thủ đô Hà Nội khoảng 110 km. Phần đất thuộc tỉnh Thái Bình ngày nay trước đây thuộc về trấn Sơn Nam. Tới năm Thành Thái thứ hai (1890) tỉnh Thái Bình được thành lập. Tỉnh có nhiều khu du lịch và danh lam thắng cảnh nổi tiếng như bãi biển Đồng Châu, cồn Vành, chùa Keo... Các ngành nghề truyền thống như chạm bạc, làm chiếu ở đây cũng khá phát triển. Ngoài ra, Thái Bình còn được mệnh danh là Quê Lúa.

    Bãi biển Đồng Châu

    Bãi biển Đồng Châu

  65. Sa cơ
    Lâm vào tình thế rủi ro, khốn đốn.
  66. Bài vè này nói về cuộc nổi dậy chống Pháp tại chùa Lãng Đông, tỉnh Thái Bình. Tháng 11 âm lịch năm Đinh Dậu (1897), hưởng ứng phong trào Cần Vương, trụ trì chùa là nhà sư Thích Thanh Thụ đã lãnh đạo số binh sĩ lên đến trên 200 người từ các xã Trà Giang, Hồng Thái, Quốc Tuấn thuộc vùng tổng Đồng Xâm, theo bờ sông Trà Lý tiến về thị xã Thái Bình đánh thẳng vào dinh công sứ. Tuy nhiên, do lực lượng quá chênh lệch, cuộc bạo động mau chóng thất bại. Thiền sư cùng 21 nghĩa binh bị giặc Pháp bắt đưa về gò Mống chặt đầu, sau đó thủ cấp bị treo lên để thị chúng.
  67. Dị sự
    Chuyện lạ thường (từ Hán Việt).
  68. Vắn
    Ngắn (từ cổ).

    Tự biệt nhiều lời so vắn giấy
    Tương tư nặng gánh chứa đầy thuyền

    (Bỏ vợ lẽ cảm tác - Nguyễn Công Trứ)

  69. Đặng
    Được, để, nhằm (từ cũ, phương ngữ).
  70. Loan phụng hòa minh
    Chim loan, chim phượng cùng hót. Chỉ vợ chồng hòa thuận, thương yêu nhau.
  71. Thung dung
    Thong dong.
  72. Thôn lân
    Làng xóm láng giềng (từ Hán Việt).
  73. Lao lung
    Khổ cực (từ cổ).
  74. Thất phát
    Cũng như thất bát – mất mùa.
  75. Nàn
    Nạn (từ cũ).
  76. Đoạn trường
    Đau đớn như đứt từng khúc ruột (đoạn: chặt đứt, trường: ruột). Theo Sưu thần kí, có người bắt được hai con vượn con, thường đem ra hiên đùa giỡn. Vượn mẹ ngày nào cũng đến ở trên cây gần đầu nhà, kêu thảm thiết. Ít lâu sau thì vượn mẹ chết, xác rơi xuống gốc cây. Người ta đem mổ thì thấy ruột đứt thành từng đoạn.
  77. Túng tíu
    Túng thiếu (từ cũ).
  78. Thét
    Mãi (phương ngữ).
  79. Kế tự
    Nối dõi (từ Hán Việt).
  80. Bình dân học vụ
    Tên một phong trào do chủ tịch Hồ Chí Minh phát động sau cách mạng tháng Tám để xóa nạn mù chữ (diệt giặc dốt), có sử dụng các câu văn vần mô tả bảng chữ cái cho dễ thuộc: I, tờ (t), có móc cả hai. I ngắn có chấm, tờ dài có ngang

    Từ "i tờ" về sau chỉ trình độ học vấn vỡ lòng.

    Bình dân học vụ

    Bình dân học vụ

  81. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
    Tên một nhà nước được Hồ Chí Minh tuyên bố thành lập năm 1945, tồn tại cho đến sau 1976 thì sát nhập với nhà nước Cộng hòa miền Nam Việt Nam thành nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam hiện nay. Xem thêm.

    Hồ Chí Minh tuyên bố thành lập Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

    Hồ Chí Minh tuyên bố thành lập Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

  82. Lía
    Dân gian còn gọi là chàng Lía, chú Lía, người lãnh đạo cuộc khởi nghĩa nông dân chống ách thống trị của nhà Nguyễn vào thế kỉ 18 nổ ra tại Truông Mây, Bình Định. Có giả thuyết cho rằng ông tên thật là Võ Văn Doan, quê nội huyện Phù Ly (huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định ngày nay), quê ngoại làng Phú Lạc, tổng Thời Hòa, huyện Tuy Viễn (nay là huyện Tây Sơn). Lía tập hợp dân nghèo nổi dậy, chọn Truông Mây (Hoài Ân, Bình Định) làm căn cứ, lấy của người giàu chia cho người nghèo. Tương truyền sau khi cuộc khởi nghĩa thất bại, ông uất ức bỏ lên núi và tự sát.
  83. Anh hào
    Anh hùng hào kiệt, người có tài năng, chí khí. Hội anh hào là dịp để anh hào gặp và thi thố lẫn nhau để lập nên những công trạng hiển hách.

    Đường đường một đấng anh hào,
    Côn quyền hơn sức, lược thao gồm tài.

    (Truyện Kiều)

  84. Sơn hà
    Núi sông (từ Hán Việt). Từ cũ, nghĩa rộng dùng để chỉ đất nước.

    Nam quốc sơn hà Nam Đế cư
    Tiệt nhiên phận định tại thiên thư
    Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
    Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư

    (Lý Thường Kiệt)

    Dịch thơ:

    Sông núi nước Nam vua Nam ở
    Rành rành định phận tại sách trời
    Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm
    Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời.

  85. Chiêu binh mãi mã
    Chiêu mộ binh lính và mua ngựa chiến (để chuẩn bị cho chiến tranh). Hiểu rộng ra là tập hợp lực lượng, vây cánh.
  86. Dung
    Biết là việc xấu, sai nhưng vẫn để tồn tại.
  87. Lâu la
    Từ chữ Hán 嘍囉, chỉ quân lính, tay chân của giặc cướp.
  88. Trào đàng
    Triều đình (cách nói cũ của Trung và Nam Bộ).

    Trạng nguyên tâu trước trào đàng,
    Thái sư trữ dưỡng tôi gian trong nhà.

    (Lục Vân Tiên - Nguyễn Đình Chiểu)

  89. Bá quan
    Từ chữ Hán Việt 百 (trăm), và quan 官 (quan lại), chỉ tất cả các quan lại trong triều đình. Cũng nói là bá quan văn võ.
  90. Ngự sử
    Tên chung của một số chức quan có nhiệm vụ giám sát từ cấp cao nhất (vua) đến các cấp quan lại.
  91. Lai do
    Nguyên do sự việc.
  92. Đàng
    Đường (phương ngữ Trung và Nam Bộ).
  93. Phú hào
    Những người giàu và có thế lực ở nông thôn thời phong kiến (từ Hán Việt).
  94. Rày
    Nay, bây giờ (phương ngữ).
  95. Ngờ (phương ngữ Nam Bộ).
  96. Binh nhung
    Binh 兵 (binh lính) và nhung 戎 (vũ khí, binh lính). Chỉ binh khí, quân đội, hoặc hiểu rộng ra là việc quân.
  97. Nam hoàng
    Vua nước Nam.
  98. Quản
    E ngại (từ cổ).
  99. Bảo Đại
    (1913-1997) Hoàng đế thứ mười ba và cuối cùng của triều Nguyễn, triều đại phong kiến cuối cùng ở nước ta, đồng thời cũng là quốc trưởng đầu tiên của Đế quốc Việt Nam (3/1945) và Quốc gia Việt Nam (7/1949). Ông sinh tại Huế, là con vua Khải Định, có tên huý là Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy. Ông có một câu nói nổi tiếng khi chính thức thoái vị và trao ấn tín, quốc bảo của hoàng triều cho cách mạng vào ngày 23 tháng 8 năm 1945: Trẫm muốn được làm Dân một nước tự do, hơn làm Vua một nước bị trị. Cuối đời ông sống lưu vong tại Pháp và qua đời trong lặng lẽ vào ngày 31 tháng 7 năm 1997, thọ 85 tuổi.

    Vua Bảo Đại

    Vua Bảo Đại

  100. Le Mur
    Pháp âm là "lơ-muya," một kiểu áo dài cách tân do họa sĩ Cát Tường (nghệ danh là Le Mur Cát Tường) tung ra vào những năm 1930. Áo Le Mur lấy cảm hứng từ chiếc váy của phương Tây với nối vai, tay phồng, cổ lá sen..., đặc biệt những màu thâm, nâu, đen của áo dài truyền thống được thay bằng màu sắc sặc sỡ, tương sáng mặc kết hợp với quần trắng. Sau khi thịnh hành một vài năm, đến năm 1934, họa sĩ Lê Phổ cải tiến kiểu áo theo cách dung hòa giữa váy phương Tây với áo tứ thân truyền thống (gọi là áo "Lê Phổ"), áo Le Mur bớt phổ biến dần.

    Đám cưới họa sĩ Cát Tường, Bắc Ninh 1936. Chú rể đứng phía trái, đang giang hai tay. Cô dâu Nguyễn Thị Nội mặc áo trắng, đi bên cạnh phù dâu, đều mặc áo Le Mur.

    Đám cưới họa sĩ Cát Tường, Bắc Ninh 1936. Chú rể đứng phía trái, đang giang hai tay. Cô dâu Nguyễn Thị Nội mặc áo trắng, đi bên cạnh phù dâu, đều mặc áo Le Mur.

  101. Bóp phơi
    Cũng đọc trại thành bóp (bót) tơ phơi, từ chữ tiếng Pháp portefeuille, nghĩa là cái ví tiền. Đây cũng là gốc của từ "bóp," được dùng nhiều ở miền Nam.
  102. Ô cánh dơi
    Ô (dù) hình khum, những múi ô khi mở ra trông giống cánh con dơi căng ra, xưa kia nam giới thường dùng.
  103. Hồi đó, ngay tại thủ đô Huế, nơi có triều đình Việt Nam và Toà Khâm Sứ Pháp, một số các cô tân thời hay mặc "mốt" áo Le Mur. Dân Huế do đó mà có bài vè này.
  104. Lính mộ
    Lính được chiêu mộ. Từ này thường dùng để chỉ những người bị thực dân Pháp gọi (mộ) đi lính trước đây.

    Lính khố đỏ.

    Lính khố đỏ.

  105. Phên
    Đồ đan bằng tre, nứa, cứng và dày, dùng để che chắn. Một số vùng ở Bắc Trung Bộ gọi là phên thưng, bức thưng.

    Tấm phên

    Tấm phên

  106. Mần răng
    Làm sao (phương ngữ Trung Bộ).
  107. Đâu, nào (phương ngữ Trung Bộ).
  108. Vạn tử nhất sinh
    Vạn phần chết, một phần sống (thành ngữ Hán Việt).
  109. Bể
    Biển (từ cũ).
  110. Đội
    Một chức vụ trong quân đội thời thực dân Pháp, tương đương với tiểu đội trưởng hiện nay (Đội Cung, Đội Cấn...).
  111. Quy tế
    Chú thích này đang để ngỏ. Nếu bạn có thông tin về Quy tế, hãy đóng góp cho chúng tôi.
  112. Diên
    Tiệc rượu (từ Hán Việt).
  113. Tức 30/8/1917 dương lịch, ngày nổ ra cuộc khởi nghĩa Thái Nguyên do đội Cấn chỉ huy.
  114. Can qua
    Can 干 chữ Hán nghĩa là cái mộc để đỡ. Qua 戈 là cây mác, một loại binh khí ngày xưa. Can qua chỉ việc chiến tranh.
  115. Thái Nguyên
    Một tỉnh ở miền Bắc nước ta, nổi tiếng với nghề trồng và chế biến chè (trà).

    Đồi chè Thái Nguyên

    Đồi chè Thái Nguyên

  116. Lính tập
    Một lực lượng vũ trang của chính quyền thuộc địa Pháp ở Đông Dương, theo chính sách dùng người bản xứ làm quân đội chính quy trong việc đánh dẹp. Lính tập gồm lính khố đỏ, lính khố xanh, lính khố vàng, lính khố lục, những tên gọi xuất phát từ màu dải thắt lưng họ quấn quanh quân phục.

    Lính tập (Tập binh 習兵)

    Lính tập (Tập binh 習兵)

  117. Có bản chép: Rủ nhau.
  118. Đội Cấn
    Tên thật là Trịnh Văn Cấn (1881 - 1918), người làng Yên Nhiên, phủ Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Yên, nay thuộc xã Vũ Di, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc. Ông còn có tên khác là Trịnh Văn Đạt, là viên đội lính khố xanh trong cơ binh Pháp ở Thái Nguyên. Ông cùng Lương Ngọc Quyến - một chí sĩ yêu nước bị giam tại nhà tù ở Thái Nguyên - lãnh đạo binh lính người Việt đứng lên chống Pháp vào đêm 30/8/1917. Từ đó đến ngày 5/9, các cuộc tấn công của địch liên tiếp nổ ra. Do không chống nổi lực lượng của địch, nghĩa quân phải rút lui. Ngày 10/1/1918, trong trận chiến đấu với quân Pháp tại núi Pháo, Đội Cấn bị thương nặng và tự sát.

    Di ảnh Đội Cấn

    Di ảnh Đội Cấn

  119. Cai
    Từ gọi tắt của cai vệ, chức danh chỉ huy một tốp lính dưới thời thực dân Pháp.

    Lính lệ

    Lính lệ

  120. Theo lệnh của Đội Cấn, Đội Trường đã tiêu diệt Giám binh Noen, Ba Chén giết tên Phó quản Lạp và 7-8 binh sĩ chống đối.
  121. Nhà pha
    Nhà tù (từ cũ). Có ý kiến cho rằng từ này có gốc từ tiếng Pháp bagne, nghĩa là giam cầm.
  122. Thị thường
    Xem thường.
  123. Tài bồi
    Vun đắp, vun trồng (từ Hán Việt).
  124. Nam bang
    Bờ cõi nước Nam.
  125. Nghĩa quân sử dụng quân kì màu vàng đề bốn chữ "Nam binh phục quốc."
  126. Tự Đức
    (1829 – 1883) Vị hoàng đế thứ tư của nhà Nguyễn, vương triều cuối cùng trong lịch sử phong kiến nước ta. Thời gian ông ở ngôi đánh dấu nhiều sự kiện trong lịch sử nước ta, trong đó quan trọng nhất là tháng 8/1858, quân Pháp nổ phát súng đầu tiên tấn công Đà Nẵng, mở đầu cho thời kì thống trị của người Pháp ở Việt Nam.

    Vua Tự Đức

    Vua Tự Đức

  127. Chú thích này đang để ngỏ. Nếu bạn có thông tin về , hãy đóng góp cho chúng tôi.
  128. Mần
    Làm (phương ngữ Trung và Nam Bộ). Như mần ăn, mần việc, đi mần...
  129. Răng
    Sao (phương ngữ Trung Bộ).
  130. Con tạo
    Từ chữ hóa nhi, một cách người xưa gọi tạo hóa với ý trách móc, cho rằng tạo hóa như đứa trẻ nghịch ngợm, hay bày ra cho người đời những chuyện oái ăm, bất thường.
  131. Phong trào Duy tân
    Cuộc vận động cải cách công khai ở miền Trung Việt Nam, kéo dài từ 1906 đến 1908 do Phan Chu Trinh phát động.

    Phong trào Duy tân (duy tân: theo cái mới) chủ trương bất bạo động, mở mang dân trí, đổi mới giáo dục, văn hóa và kinh tế để tạo nên thế tự lực tự cường cho người Việt - lúc bấy giờ ở dưới nền thống trị thuộc địa của Pháp. Phong trào mang khẩu hiệu: "Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh".

    Cùng thời và cùng theo tư tưởng cải cách còn có Duy tân hội (1904-1912) của Phan Bội Châu, do hoạt động bí mật nên được gọi là Ám xã (Hội trong bóng tối). Phong trào Duy tân hoạt động công khai, được gọi là Minh xã (Hội ngoài ánh sáng).

    Một trong những đỉnh cao của phong trào Duy tân là Đông Kinh nghĩa thục (3/1907 - 11/1907).

    Phan Châu Trinh

    Phan Châu Trinh

  132. Thân sĩ
    Thân nghĩa là đai áo chầu. Thân sĩ là từ chỉ các quan đã về hưu.
  133. Ái quốc
    Yêu nước (từ Hán Việt).
  134. Phong trào chống sưu thuế Trung Kỳ
    Còn gọi là Trung kỳ dân biến, khởi phát bằng cuộc đấu tranh chống sưu thuế của nhân dân Quảng Nam vào đầu tháng 3 năm 1908, kéo dài hơn một tháng và lan ra các tỉnh lân cận như Quảng Ngãi, Bình Định, Thừa Thiên, Phú Yên, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh. Do nhiều người lãnh đạo chủ chốt trong phong trào này cũng tham gia phong trào Duy Tân nên chính quyền thực dân thẳng tay đàn áp cả hai. Đến cuối tháng 5 năm 1908, cả hai phong trào đều kết thúc.

    Xem bài Vè xin xâu liên quan đến phong trào này.

  135. Chỉ vụ Hà thành đầu độc năm 1908.
  136. Tội nguyên
    Người đứng đầu chịu tội.
  137. Nho lưu
    Giới nho sĩ.
  138. Chú thích này đang để ngỏ. Nếu bạn có thông tin về , hãy đóng góp cho chúng tôi.
  139. Hoàn
    Trả lại, trở lại (từ Hán Việt).
  140. Xắc-sơ
    Lính chiến (từ tiếng Pháp chasseur).

    Chasseur à cheval (khinh kị binh)

  141. Cát-xê
    Vỡ, rách (từ tiếng Pháp casser).
  142. Jê-cờ-ri
    Tôi viết (từ tiếng Pháp J'écris).
  143. Ăng-voa
    Gửi (từ tiếng Pháp envoie).
  144. Me xừ
    Từ tiếng Pháp monsieur, nghĩa là "quý ông."
  145. Di-đăng
    Công sứ (từ tiếng Pháp résident).
  146. Tú xon
    Cô đơn, một mình (từ tiếng Pháp tout seul).
  147. Cô soong
    Con lợn (từ tiếng Pháp couchon), dùng làm tiếng chửi.
  148. Đờ-puy
    Từ khi (từ tiếng Pháp depuis).
  149. Nô-xờ
    Tiệc cưới (từ tiếng Pháp noce).
  150. Ê-loa-nhê
    Xa cách (từ tiếng Pháp éloigné).
  151. Cu-tô
    Con dao (từ tiếng Pháp couteau).
  152. Nguyệt hoa
    Cũng viết là hoa nguyệt (trăng hoa), chỉ chuyện trai gái yêu đương. Từ này có gốc từ nguyệt hạ hoa tiền (dưới trăng, trước hoa, những cảnh nên thơ mà trai gái hẹn hò để tình tự với nhau), nay thường dùng với nghĩa chê bai.

    Cởi tình ra đếm, ra đong
    Đâu lời chân thật, đâu vòng trăng hoa?

    (Tơ xuân - Huy Trụ)

  153. La cua
    Cái sân (từ tiếng Pháp la cour).
  154. Mút
    Rêu (từ tiếng Pháp mousse).
  155. Luyn
    Mặt trăng (từ tiếng Pháp lune).
  156. La săm
    Buồng (từ tiếng Pháp la chambre).
  157. A-mi
    Bạn thân, bạn gái (từ tiếng Pháp amie).
  158. Sơ-mi
    Nghĩa gốc là áo lót (từ tiếng Pháp chemise). Ngày nay, sơ mi có cổ áo, tay áo và hàng nút phía trước.
  159. Canh
    Đơn vị tính thời gian ban đêm ngày xưa. Người xưa chia một đêm ra thành năm canh (đêm năm canh, ngày sáu khắc). Theo đó, canh một là giờ Tuất (19-21h), canh hai là giờ Hợi (21-23h), canh ba là giờ Tí (23h-1h sáng), canh tư là giờ Sửu (1h-3h), canh năm là giờ Dần (3h-5h). Mỗi lúc sang canh thường có trống điểm, gọi là trống canh.
  160. Lơ li
    Cái giường (từ tiếng Pháp le lit).
  161. Biếng ba
    Xanh xao (từ tiếng Pháp bien pale).
  162. Pơ-răng qua
    Lấy gì (từ tiếng Pháp prendre quoi).
  163. Uyn lét
    Một lá thư (từ tiếng Pháp une lettre).
  164. Ca-đô
    Quà (từ tiếng Pháp cadeau).
  165. Ba-tô
    Tàu thủy (từ tiếng Pháp bateau).
  166. Lác-mơ
    Nước mắt (từ tiếng Pháp larme).
  167. Hồ Trúc Bạch
    Tên một cái hồ thuộc quận Ba Đình, thành phố Hà Nội. Hồ được cho là một phần của hồ Tây trước kia, chúa Trịnh cho đắp đê Cố Ngự (sau đọc thành Cổ Ngư, giờ là đường Thanh Niên). Trước hồ thuộc làng Trúc Yên, ven hồ có Trúc Lâm viện là nơi chúa Trịnh giam giữ các cung nữ phạm tội. Những cung nữ này làm nghề dệt lụa để kiếm sống. Vì lụa đẹp nổi tiếng, nên dân gian lấy đó làm tên gọi cho hồ (Trúc Bạch nghĩa là lụa làng Trúc).

    Hồ Trúc Bạch ngày nay

    Hồ Trúc Bạch ngày nay

  168. Xi vu lét-xê moa
    Nếu anh để lại cho tôi (từ tiếng Pháp si vous laissez moi).
  169. Bông cờ
    Lòng tốt (từ tiếng Pháp bon cœur).
  170. Ta xơ
    Chị gái của anh (từ tiếng Pháp ta sœur).
  171. Ơ-rơ
    Sung sướng (từ tiếng Pháp heureux).
  172. Lơ roa
    Vua (từ tiếng Pháp le roi).
  173. Thành Thái
    (14/3/1879 – 24/3/1954) Hoàng đế thứ 10 của nhà Nguyễn, tại vị từ 1889 đến 1907. Lên ngôi khi mới mười tuổi, ông sớm bộc lộ tinh thần dân tộc và chủ trương đánh Pháp. Nǎm 1916 ông đày ra đảo Réunion cùng với con trai là vua Duy Tân, đến tháng 5 năm 1945 mới được cho về Việt Nam. Ông sống tại Cap Saint Jacques (Vũng Tàu) đến năm 1954 thì mất.

    Vua Thành Thái

    Vua Thành Thái

  174. An Nam
    Tên gọi của nước ta trong một số giai đoạn lịch sử. Tiêu biểu nhất có lẽ là dưới thời kì đô hộ của thực dân Pháp, khi nước ta bị chia thành ba kỳ.
  175. 23 tháng Tám là ngày âm lịch; tháng Mười là dương lịch, cách nhau hơn một tháng.
  176. Theo Hoàng Ngọc Phách thì Nguyễn Thị Thời là tên một người phụ nữ quê ở Hải Phòng cưới chồng Tây, theo chồng lên Bắc Ninh. Được ít lâu thì chồng về Tây, cô nhờ người viết hộ một lá thư (cô nói ra, người viết ghi vào giấy), sau thành bài ca dao truyền miệng này.
  177. Cao su
    Một loại cây có nguồn gốc từ Nam Mỹ, cho nhựa mủ dùng để sản xuất cao su tự nhiên. Cao su tự nhiên là một chất liệu rất quan trọng trong nhiều ngành công nghiệp, dùng để sản xuất ra rất nhiều thành phẩm dùng trong đời sống. Trong thời gian đô hộ nước ta, thực dân Pháp đã cho thành lập nhiều đồn điền cao su, bắt dân đi phu dài hạn, đối xử gần như nô lệ. Tên gọi cao su bắt nguồn từ tiếng Pháp caoutchouc.

    Khai thác nhựa cao su

    Khai thác nhựa cao su

  178. Lang
    Cách gọi cũ của người làm nghề thầy thuốc, thường là Đông y.
  179. Chí
    Đến, kéo dài cho đến (từ Hán Việt).
  180. Lê Văn Khôi
    Tên thật là Bế-Nguyễn Nghê, còn được gọi là Hai Khôi, Nguyễn Hựu Khôi hoặc Bế Khôi, là con nuôi của Lê Văn Duyệt và là người thủ lĩnh cuộc nổi dậy chống lại nhà Nguyễn ở thành Phiên An (tức thành Bát Quái) vào năm 1833. Đầu năm 1834, ông mất vì bệnh phù thũng; đến năm 1835 thì thành Phiên An thất thủ, mộ ông bị cho khai quật để báo thù. Sách Đại Nam chính biên liệt truyện chép:

    Tra xét nơi chôn thây tên nghịch Khôi, đào lấy xương đâm nát chia ném vào hố xí ở 6 tỉnh (Nam Kỳ) và cắt chia từng miếng thịt cho chó, đầu lâu thì đóng hòm đưa về kinh (Huế) rồi cùng đầu lâu những tên phạm khác bêu treo khắp chợ búa nam bắc, xong vất xuống sông. Còn bè đảng a dua không cứ già trẻ trai gái đều ở vài dặm ngoài thành chém ngay, rồi đào một hố to vất thây lấp đất, chồng đá làm gò dựng bia khắc: nơi bọn nghịch tặc bị giết, để tỏ quốc pháp.

    Nơi chôn chung những người theo Lê Văn Khôi – tổng cộng 1.831 người – được gọi là mả Ngụy, mả Ngụy Khôi, hoặc mả Biền Tru, nằm ở gần Mô Súng, tức khoảng gần Ngã Sáu (Công trường Dân Chủ), đường Cách Mạng Tháng Tám và đầu đường 3 tháng 2, thành phố Hồ Chí Minh ngày nay.

  181. Sứ
    Một chức quan cai trị người Pháp đứng đầu trong một tỉnh dưới thời Pháp thuộc.
  182. Thủy Tú
    Tên một ngôi làng thuộc quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng hiện nay.
  183. Hỏa xa
    Xe lửa (từ Hán Việt).
  184. Cu li
    Từ tiếng Pháp coolie, chỉ người lao động làm những công việc nặng nhọc.
  185. Hằng hà
    Nhiều quá không đếm được. Nguyên từ câu thành ngữ "Hằng hà sa số" trong Phật giáo, nghĩa là số lượng cát của sông Hằng (một con sông lớn ở Ấn Độ, có cát rất mịn).
  186. Bảo hộ
    Giúp đỡ và che chở. Trước đây thực dân Pháp lấy danh nghĩa bảo hộ để xâm lược nước ta và nhiều nước khác.
  187. Đáo lai
    Đến (từ Hán Việt).
  188. Thuế thân
    Cũng gọi là thuế đinh hay sưu, một loại đóng theo đầu người dưới chế độ phong kiến hoặc quân chủ. Trong lịch sử nước ta, thuế thân có từ thời nhà Lý, kéo dài đến hết thời thuộc Pháp.
  189. Xâu
    Cũng gọi là sưu, món tiền mà người đàn ông từ mười tám tuổi trở lên phải nộp (sưu thế), hoặc những công việc mà người dân phải làm cho nhà nước phong kiến hay thực dân (đi xâu).