Tìm kiếm "bát đàn"

  • Anh có thương em thì đừng có luân con mắt

    Anh có thương em thì đừng có luân con mắt,
    Đừng có quẹt ngón tay,
    Người ta đông như hội, ngó ngay mà nhìn.
    Thuốc của anh anh hút,
    Trầu của anh anh đừng mời.
    Miệng thế gian họ đồn lắm anh ơi,
    Giả lơ làm lảng như hồi chưa quen!

    Dị bản

    • Anh thương em thì đừng có luân con mắt, đừng có bắt cái tay
      Người ta đông như hội ngó ngay chớ đừng nhìn
      Anh thương em để dạ làm tin
      Miếng trầu miếng thuốc giữ gìn anh ăn
      Trầu em, em để trong khăn
      Thuốc anh, anh hút đừng quăng, đừng dồi
      Miệng thế gian quá lắm anh ơi
      Chồng em hay đặng, vậy thời em nói sao.

  • Chè ngon ai hái nửa nương

    Chè ngon ai hái nửa nương
    Cau non nửa chẽ người thương nửa chừng
    Hai hàng nước mắt ngập ngừng
    Thà rằng ngày trước ta đừng gặp nhau

    Dị bản

    • Chè non em hái nửa vườn
      Cau non nửa chục, người thương nửa chừng
      Đắng cay như bát nước gừng
      Biết ra dang dở thì đừng quen nhau

  • Con hổ con hô

    Con hổ con hô
    To như cái bồ
    Hắn ngồi trong bụi
    Hắn vội nhảy ra
    Hắn bắt ông già
    Hắn vồ con nít
    “Thùng thùng”
    Ai ở đâu thì ra cho hết
    Đánh chết con hổ
    Con hổ con hô…

  • Vè con cút

    Nghe vẻ nghe ve
    Nghe vè con cút
    Trâu ăn mấy chút
    Bắt mẹ tôi đền
    Nắm chóp tôi lên
    Đau đầu cha chả
    Chạy mời Trùm Xã,
    Lại có Trưởng Đông
    Trâu ăn ngoài đồng
    Bắt vô mà cột
    Mâm trầu cho tốt
    Hũ rượu cho ngon
    Phải trâu của con
    Thì con bắt lấy

  • Vè bài tới

    Nghe vẻ nghe ve,
    Nghe vè bài tới
    Cơm chưa lập xới
    Trầu chửa kịp têm
    Tao đánh ba đêm
    Thua ba tiền rưỡi
    Về nhà chống chửi:
    “Thằng Móc, thằng Quăn,
    Đánh sao không ăn
    Mà thua lắm bấy?”
    Tui lấy tiền cấy
    Cho đủ mươi ngày
    Bảy Thưa, Bảy Dày
    Cùng là Ngạt kéo

  • Này rìu này đục sẵn sàng

    Này rìu này đục sẵn sàng
    Này dây nảy mực, này chàng này cưa
    Mái kia ai cất nên chùa
    Đìnhnày ai dựng, nhà vua ai làm
    Quán kia ai dựng bên đàng
    Cầu này ai bắt sẵn sàng mà đi
    Gỗ này bào để làm chi
    Đóng bàn cho bậc nam nhi học hành
    Một mai gặp bước công danh
    Quan sang chức trọng, chớ khinh thợ thuyền

  • Phú tắc cộng lạc, bần tắc cộng ưu

    Phú tắc cộng lạc, bần tắc cộng ưu
    Hoạn nạn tương cứu, sinh tử bất ly
    Bây giờ em đặng chữ vu quy
    Em ham nơi quyền quý, em sá gì nghĩa anh.

    Dị bản

    • Phú tắc cộng lạc, bần tắc cộng ưu,
      Hoạn nạn tương cứu, sanh tử bất ly
      Bây giờ bậu đặng chữ vu quy
      Ham nơi quyền quý chẳng nghĩ gì tới qua

  • Lao xao gà gáy rạng ngày

    Lao xao gà gáy rạng ngày
    Vai vác cái cày, tay dắt con trâu
    Bước chân xuống cánh đồng sâu
    Mắt nhắm mắt mở đuổi trâu ra cày
    Ai ơi bưng bát cơm đầy
    Nhớ công hôm sớm cấy cày cho chăng?

    Dị bản

    • Xôn xao gà gáy rạng ngày
      Vai vác cái cày, tay dắt con trâu
      Bước chân xuống cánh đồng sâu
      Mắt nhắm, mắt mở, cái đầu chôm bôm

  • Vè bần phú

    Thảo một bài bần phú,
    Luận đôi câu nhơn nghĩa tinh vi.
    Kẻ đắc thời đắc lễ đắc nghi
    Người thất thế, thất thi thất nghiệp.

    Cũng có kẻ cực già đời mãn kiếp,
    Cũng có người phong lưu tự bé chí già.
    Việc ấy nghĩ không ra,
    Chẳng biết tại căn hay là tại số?

    Cũng có kẻ ở phường, ở phố,
    Cũng có người sầu giả lâm bô.
    Đã khắp trong cửu quận mười đô,
    Vì hai chữ phú bần lợn lạo.

  • Vè nói ngược

    Nghe vẻ nghe ve
    Nghe vè nói ngược
    Nắng hạn đầy nước
    Mưa dầm khô rang
    Đám cưới đình làng
    Kì yên ngoài chợ
    Nhà giầu khất nợ
    Nhà nghèo cho vay
    Đàn bà đi cày
    Đàn ông đi cấy
    Ghe nổi thì đẩy
    Ghe cạn thì chèo
    Nuôi chuột bắt mèo
    Nuôi heo lấy trứng
    Xu xoa thì cứng
    Đá núi thì mềm
    Trời nắng về đêm
    Ban ngày sao mọc

  • Tình chồng vợ anh không tưởng tới

    Tình chồng vợ anh không tưởng tới
    Nghĩa sinh thành anh chẳng kể chi
    Sao anh bất thức bất tri
    Anh đi lính mộ được gì đâu na
    Anh nghe em hỏi đây mà
    Ai sinh ai đẻ anh ra thành người
    Sao anh không sợ người cười
    Cái nòi lính mộ mấy đời sướng thân
    Hỏi anh anh phải phân trần
    Cha già mẹ yếu đỡ đần cậy ai?
    Tình non nghĩa nước bao ngày
    Con trăng cõi Bắc đã đầy nhớ thương

  • Em là con gái tỉnh Nam

    Em là con gái tỉnh Nam
    Chạy tàu vượt biển ra làm Cửa Ông
    Từ khi mới mở Cửa Ông
    Đi làm thì ít, đi rông thì nhiều
    Chị em cực nhục trăm điều
    Trước làm một lượt đã trèo cầu thang
    Đặt mình chưa ấm chỗ nằm
    Đã lại còi tầm hú gọi ra đi
    Dế kêu, suối chảy rầm rì
    Bắt cô trói cột não nề ngân nga
    Đoàn người hay quỷ hay ma
    Tay mai, tay cuốc, sương sa mịt mù
    Hai bên gió núi ù ù
    Tưởng oan hồn của dân phu hiện về.

  • Tiếng anh ăn học cựu trào

    Tiếng anh ăn học cựu trào
    Chị dâu té giếng, anh nắm chỗ nào kéo lên?
    – Nắm đầu thì sợ tội trời
    Nắm ngang khúc giữa sợ lời thế gian
    Giếng sâu anh phải thông thang
    Kéo chị dâu lên đặng kẻo chết oan linh hồn

    Dị bản

    • Tiếng đồn anh ăn học đã cao
      Chị dâu rớt xuống giếng, anh nắm chỗ nào anh kéo lên?
      –  Chị dâu mà rớt xuống giếng
      Anh tìm miếng để cứu chị lên
      Nắm đầu thì sợ tội trời
      Hai tay nâng đỡ, sợ lời thế gian
      Nhanh tay liền bắc cái thang
      Kéo chị dâu một thuở kẻo chết oan con người

    • Em nghe anh ăn học trong trào
      Chị dâu té giếng níu chỗ nào kéo lên?
      – Anh nắm đầu thì sợ tội
      Nắm tay thì lại lỗi đạo tam cang
      Dậm chân kêu bớ ông trời vàng
      Cho hai con rồng bạch xuống cứu nàng chị dâu

    • Tiếng anh ăn học cựu trào
      Chị dâu té giếng, anh nắm chỗ nào kéo lên?
      – Nắm đầu thì khổ
      Nắm cổ lại không nên
      Nắm chân tay thì lỗi niềm huynh đệ
      Vậy anh cứ bớ làng là hơn!

    • Tiếng anh ăn học cựu trào
      Chị dâu té giếng, anh nắm chỗ nào kéo lên?
      – Chị dâu té giếng cái ào
      Hồn bất phụ thể, nắm chỗ nào cũng xong!

    • – Tiếng đồn anh học chữ ngoài triều
      Chị dâu rớt xuống giếng, anh nắm đằng nào anh kéo lên
      – Anh xách cái đầu, lỗi đạo nhân huynh
      Thò tay vào mình, thụ thụ bất thân
      Không cứu chị dâu thì lỗi đạo từ đường
      Dòng dây anh thả xuống chị nương chị vào

  • Ông giẳng ông giăng

    Ông giẳng ông giăng
    Xuống chơi với tôi
    Có bầu có bạn
    Có ván cơm xôi
    Có nồi cơm nếp
    Có nẹp bánh chưng
    Có lưng hũ rượu
    Có chiếu bám đu
    Thằng cu xí xóa
    Bắt trai bỏ giỏ
    Cái đỏ ẵm em
    Đi xem đánh cá
    Có rá vo gạo
    Có gáo múc nước
    Có lược chải đầu
    Có trâu cày ruộng
    Có muống thả ao
    Có sao trên trời

  • Cái bần là cái chi chi

    Cái bần là cái chi chi
    Làm cho thân thích lưu li vì bần
    Cái bần là cái tần ngần
    Làm cho bạn hữu đang gần lại xa
    Cái bần là cái xót xa
    Làm cho vay một trả ba không rồi
    Cái bần là cái lôi thôi
    Làm cho quân tử đứng ngồi bất an
    Cái bần là cái dở dang
    Làm cho trăm mối ngổn ngang vì bần
    Xưa nay tạo hóa xoay vần
    Hết bần lại phú chẳng cần chi đâu.

  • Một nhành tre, năm ba nhành trảy, sáu bảy nhành gai

    Một nhành tre, năm ba nhành trảy, sáu bảy nhành gai
    Nhà ai cửa đóng then cài,
    Anh vô không đặng, đứng ngoài anh trông.

    Dị bản

    • Một nhành tre, năm ba nhành trảy, sáu bảy nhành gai
      Thương em anh chẳng dám đoái hoài
      Chờ cho bát nước lên đài sẽ hay

  • Trên trời có ông sao Tua

    Trên trời có ông sao Tua
    Ở dưới hạ giới có vua trị vì
    Nghe rằng thất đức thất uy
    Cho nên giặc nổi như ri ngoài đồng
    Giặc nổi tỉnh Bắc tỉnh Đông
    Còn các tỉnh nhỏ cũng không yên rồi
    Đồn rằng mấy tỉnh Đường Ngoài
    Nó bắt theo đạo rụng rời chân tay

Chú thích

  1. Luân
    Chuyển động có chu kỳ; Xoay đảo, chuyển đổi (từ Hán Việt).
  2. Ngó
    Nhìn, trông (phương ngữ Trung và Nam Bộ).
  3. Trầu
    Còn gọi là trầu không, một loại dây leo dùng làm gia vị hoặc làm thuốc. Lá trầu được nhai cùng với vôi tôi hay vôi sống và quả cau, tạo nên một miếng trầu. Ở nước ta có hai loại trầu chính là trầu mỡ và trầu quế. Lá trầu mỡ to bản, dễ trồng. Trầu quế có vị cay, lá nhỏ được ưa chuộng hơn trong tục ăn trầu.

    Người xưa có phong tục mời ăn trầu khi gặp nhau. Trầu cau tượng trưng cho tình yêu đôi lứa, vợ chồng, nên là một lễ vật không thể thiếu trong các dịp cưới hỏi.

    Lá trầu không

    Lá trầu không

    Một miếng trầu

    Một miếng trầu

    Nghe nghệ sĩ nhân dân Thu Hiền hát bài Hoa cau vườn trầu.

  4. Thuốc xỉa
    Một nhúm thuốc lào được ngậm bằng môi trên trong lúc ăn trầu để tẩy cổ trầu (nước bọt có màu hồng) và xác trầu bám vào răng. Động tác bỏ thuốc xỉa vào miệng gọi là xỉa thuốc.
  5. Đặng
    Được, để, nhằm (từ cũ, phương ngữ).
  6. Thời
    Thì. Xưa vì kị húy vua Tự Đức (Nguyễn Phúc Thì) nên chữ này được đọc chạnh đi thành "thời."
  7. Chè
    Cũng gọi là trà, tên chung của một số loại cây được trồng lấy lá nấu thành nước uống. Một loại có thân mọc cao, lá lớn và dày, có thể hái về vò nát để nấu uống tươi, gọi là chè xanh. Loại thứ hai là chè đồn điền du nhập từ phương Tây, cây thấp, lá nhỏ, thường phải ủ rồi mới nấu nước, hiện được trồng ở nhiều nơi, phổ biến nhất là Thái Nguyên và Bảo Lộc thành một ngành công nghiệp.

    Đồi chè Thái Nguyên

    Đồi chè Thái Nguyên

  8. Cau
    Loại cây nhiều đốt, thân nhỏ và cao vút, có quả dùng để ăn với trầu.

    Cây cau

    Cây cau

    Quả cau và lá trầu

    Quả cau và lá trầu

  9. Chẽ
    Nhánh của một buồng, một chùm, như chẽ lúa, chẽ cau...
  10. Bồ
    Đồ cỡ lớn đựng thóc lúa, thường đan bằng tre.

    Bồ và cối xay thóc

    Bồ và cối xay thóc

  11. Cha chả
    Thán từ dùng để biểu lộ sự ngạc nhiên (phương ngữ Trung và Nam Bộ).
  12. Trùm
    Người đứng đầu một phường hội thời xưa.

    Nghệ sĩ Minh Nhí trong vai trùm Sò (áo the xanh) trong vở cải lương Ngao Sò Ốc Hến

    Nghệ sĩ Minh Nhí trong vai trùm Sò (áo the xanh) trong vở cải lương Ngao Sò Ốc Hến

  13. Có bản chép: Tôi lại cửa công.
  14. Têm trầu
    Quệt vôi vào lá trầu không, cuộn lại rồi cài chặt lại bằng cuống lá để thành một miếng trầu vừa miệng ăn.

    Têm trầu

    Têm trầu

    Trầu têm cánh phượng

    Trầu têm cánh phượng

  15. Tiền
    Đơn vị tiền tệ cổ của nước ta, bằng 60 đồng tiền kẽm.
  16. Tên các con bài trong bộ bài tới.
  17. Bồ đề
    Còn gọi tắt là cây đề, một loại cây lớn, có ý nghĩa thiêng liêng trong quan niệm của Ấn Độ giáo, Kì Na giáo và Phật giáo. Tương truyền thái tử Tất Đạt Đa Cồ Đàm ngồi thiền định dưới một gốc cây như vậy và đạt giác ngộ, trở thành một vị Phật (Thích Ca), từ đó cây có tên bồ đề (theo âm tiếng Phạn bodhi, có nghĩa là giác ngộ, thức tỉnh).

    Cây bồ đề

    Cây bồ đề

  18. Cái rìu
    Dụng cụ dùng để chặt cây hay bửa củi. Rìu gồm lưỡi rìu nặng và sắc bén, rèn bằng sắt hay thép tra vào một cán gỗ. Trước đây, rìu còn lại một loại vũ khí dùng trong chiến tranh.

    Cái rìu.

    Cái rìu.

  19. Dùi đục
    Còn gọi là đục, dụng cụ gồm một thanh thép có chuôi cầm, đầu có lưỡi sắc, dùng để tạo những chỗ lõm hoặc những lỗ trên các vật rắn như gỗ, đá, kim loại.

    Sử dụng dùi đục

    Sử dụng dùi đục

  20. Dây nảy mực
    Trước đây khi xẻ gỗ (theo bề dọc), để xẻ được thẳng, người thợ cầm một cuộn dây có thấm mực Tàu, kéo dây thẳng ra và nảy dây để mực dính vào mặt gỗ, tạo thành một đường thẳng. Hành động kéo dây nảy mực này cũng gọi là kẻ chỉ.
  21. Chàng
    Dụng cụ của thợ mộc gồm một lưỡi thép dẹp hình tam giác tra vào cán, dùng để vạt gỗ (đẽo xiên).

    Dùng chàng

    Dùng chàng

  22. Đình
    Công trình kiến trúc cổ truyền ở làng quê Việt Nam, là nơi thờ Thành hoàng, và cũng là nơi hội họp của người dân trong làng.

    Đình Tiên Canh (tỉnh Vĩnh Phúc)

    Đình Tiên Canh (tỉnh Vĩnh Phúc)

  23. Đàng
    Đường, hướng (phương ngữ Trung và Nam Bộ).
  24. Thợ thuyền
    Công nhân (từ cũ).
  25. Phú tắc cộng lạc, bần tắc cộng ưu, hoạn nạn tương cứu, sinh tử bất ly
    Giàu cùng chung vui, nghèo cùng chung lo, gặp hoạn nạn thì cứu nhau, sống chết không chia lìa. Đây là những câu người ta hay thề khi kết nghĩa anh em, vợ chồng.
  26. Vu quy
    Về nhà chồng.
  27. Bậu
    Cũng nói là em bậu, tiếng gọi người tiếp chuyện với mình, khác giới tính, có ý thương mến, thân mật. Cách xưng hô "qua, bậu" thường được dùng trong quan hệ vợ chồng, người yêu (phương ngữ Nam Bộ).
  28. Qua
    Từ người lớn dùng để tự xưng một cách thân mật với người nhỏ, hoặc cách tự xưng có đôi chút tính chất khách quan, nhưng thân tình (Từ điển từ ngữ Nam Bộ - Huỳnh Công Tín).
  29. Thảo
    Viết ra.
  30. Nghĩa nhân
    Cũng viết nhân nghĩa, nghĩa là "lòng yêu thương người (nhân) và biết làm điều phải (nghĩa)." Hiểu rộng là đạo nghĩa sống ở đời.
  31. Đắc thời đắc lễ đắc nghi
    Được thời thì được lễ nghi (chữ Hán).
  32. Thất thế
    Mất thế lực, mất chỗ tựa. Từ chữ Hán thất 失 (mất) và thế 勢 (thế lực).
  33. Thất nghiệp
    Không có nghề nghiệp, việc làm.
  34. Mãn kiếp
    Suốt đời, cho đến tận lúc chết (thường nói về việc không hay).
  35. Phong lưu
    Ngọn gió bay (phong), dòng nước chảy (lưu). Từ này vốn nghĩa là phẩm cách, tinh thần riêng của mỗi người, hiểu rộng ra là sung sướng, vui với cảnh, không phải chịu buồn khổ.

    Cõi trần thế nhân sinh là khách cả
    Nợ phong lưu kẻ giả có người vay

    (Nợ phong lưu - Nguyễn Công Trứ)

  36. Chí
    Đến, kéo dài cho đến (từ Hán Việt).
  37. Căn
    Gốc rễ (chữ Hán). Khái niệm căn thường được gặp trong lí thuyết Phật giáo, chỉ những điều căn bản, gốc rễ của nhận thức, sự việc.

    Thiện căn ở tại lòng ta
    Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài
    (Truyện Kiều)

  38. Số kiếp
    Vận mệnh của một đời người.
  39. Lâm bô
    Có nguồn gốc từ danh từ limbo trong tiếng Bồ Đào Nha, có nghĩa là một nơi giam cầm các linh hồn hay đang ở vào một tình trạng nào đó dang dở.
  40. Cửu
    Số chín, thứ chín (từ Hán Việt)
  41. Lợn lạo
    Có thể là cách đọc trại đi của từ lộn lạo.
  42. Sêu
    (Nhà trai) đưa lễ vật đến biếu nhà gái trong những dịp lễ tết.
  43. Cầu an
    Cũng gọi là kì yên, một nghi lễ của Phật giáo. Lễ cầu an (cầu cho an bình) có mục đích sám hối tội lỗi, dứt trừ nghiệp chướng, tránh mọi bệnh hoạn, tai họa và nghiệp báo.
  44. Ghe
    Thuyền nhỏ, thường đan bằng tre (gọi là ghe nan) hoặc bằng gỗ. Từ này đôi khi được dùng để chỉ tàu thuyền nói chung, nhất là ở vùng Trung và Nam Bộ.

    Chèo ghe

    Chèo ghe

  45. Xu xoa
    Một món giải khát rất phổ biến ở miền Trung. Xu xoa (có nơi gọi là xoa xoa) được nấu từ rau câu, đông lại như thạch dừa, khi ăn thì cắt thành nhiều miếng nhỏ hình vuông hoặc chữ nhật to khoảng đầu ngón tay cái, ăn kèm với mật đường mía, có thể cho thêm đá.

    Xu xoa

    Xu xoa

  46. Bất thức bất tri
    Không hiểu không biết (cụm từ Hán Việt).
  47. Lính mộ
    Lính được chiêu mộ. Từ này thường dùng để chỉ những người bị thực dân Pháp gọi (mộ) đi lính trước đây.

    Lính khố đỏ.

    Lính khố đỏ.

  48. Na
    Trợ từ, thường đặt cuối câu hỏi, như hả, ha, a, ru... (phương ngữ Trung Bộ).
  49. Cửa Ông
    Địa danh nay là phường Cửa Ông, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh. Tại đây có đền Cửa Ông, được xem là một trong những ngôi đền đẹp nhất Việt Nam, thờ Hưng Nhượng Đại Vương Trần Quốc Tảng cùng nhiều nhân vật lịch sử thời Trần.

    Đền Cửa Ông

    Đền Cửa Ông

  50. Còi tầm
    Còi báo bắt đầu hoặc kết thúc giờ làm việc các xưởng, mỏ, công trường, nhà máy…
  51. Bắt cô trói cột
    Một loài chim thuộc họ Cu cu, chim trưởng thành nửa thân trên có màu trắng, nửa dưới có nhiều vạch trắng đen. Tiếng chim kêu nghe như "Bắt cô trói cột" nên dân gian lấy làm tên, sinh sống hầu như trên khắp nước ta. Nghe tiếng chim bắt cô trói cột.

    Bắt cô trói cột

    Bắt cô trói cột

  52. Dân phu
    Người dân lao động phải làm những công việc nặng nhọc trong chế độ cũ (phu xe, phu mỏ, phu đồn điền).
  53. Cựu trào
    Triều cũ, thời cũ.
  54. Ăn học cựu trào
    Học theo lối cũ, học đạo Khổng, chữ Nho.
  55. Cương thường
    Cũng đọc là cang thường, cách nói tắt của tam cương ngũ thường, một khái niệm về đạo lí của Nho giáo trong chế độ phong kiến dành cho nam giới. Tam cương nghĩa là ba giềng mối (cương là đầu mối của lưới, nắm được cương thì các mắt lưới sẽ giương lên), gồm có quân thần (vua tôi), phụ tử (cha con), và phu phụ (chồng vợ). Ngũ thường (năm đức tính phải có) gồm: Nhân (đức khoan dung), lễ (lễ độ), nghĩa (đạo nghĩa), trí (trí tuệ) và tín (lòng thành thật).

    Trong ca dao - dân ca, đạo cang thường thường dùng để chỉ tình cảm vợ chồng.

  56. Hồn bất phụ thể
    Hồn không nương vào xác, sợ mất hết cả hồn vía.
  57. Nhân huynh
    Tiếng tôn xưng dùng gọi anh em, bạn (từ Hán Việt).
  58. Nam nữ thụ thụ bất thân
    Quan niệm hành xử của Nho giáo, rằng nam nữ không được đụng chạm vào nhau (hai chữ thụ, một chữ nghĩa là cho, chữ kia nghĩa là nhận).
  59. Từ đường
    Nhà thờ tổ tiên (từ Hán Việt).
  60. Bánh chưng
    Một loại bánh truyền thống của dân tộc ta, làm từ gạo nếp, đậu xanh, thịt lợn, lá dong. Bánh thường được làm vào các dịp Tết cổ truyền của dân tộc Việt và ngày giổ tổ Hùng Vương, nhằm thể hiện lòng biết ơn của con cháu đối với cha ông và đất trời xứ sở. Theo quan niệm phổ biến hiện nay, cùng với bánh giầy, bánh chưng tượng trưng cho quan niệm về vũ trụ của cha ông ta.

    Bánh chưng

    Bánh chưng

  61. Bần
    Nghèo (từ Hán Việt).
  62. Quân tử
    Hình mẫu con người lí tưởng theo Nho giáo. Quân tử là người ngay thẳng, đứng đắn, công khai theo lẽ phải, trung thực và cẩn trọng.
  63. Phú
    Giàu (từ Hán Việt).
  64. Cá lành canh
    Loài cá nhỏ cùng họ với cá cơm, thân mỏng, dài (khoảng 20 mm) và thuôn, đuôi nhỏ, mình trắng trong, ít vẩy, đỉnh đầu và lưng có màu xanh đen, nhạt dần xuống phía bụng, đa số sống thành đàn ở hạ lưu các sông ngòi nước ngọt, ăn phù du và các động vật nhỏ. Cá lành canh thường được dùng nấu canh và làm chả.

    Cá lành canh

    Cá lành canh

  65. Trảy
    Loại cây thuộc họ tre trúc, thân thẳng, không có gai.
  66. Tre gai
    Còn có tên là tre hóa, tre nhà, tre đực, một giống tre rất quen thuộc ở nước ta. Đặc trưng của tre gai là những gai nhọn giống như sừng trâu mọc ở mắt tre. Tre gai được trồng làm hàng rào hay trồng gần sông, suối, chân đê để chống xói mòn đất. Gỗ tre gai rất cứng nên thường được dùng làm cọc móng trong xây dựng cũng như dùng làm nguyên liệu để đan rổ rá, đóng bàn ghế và chế tạo hàng thủ công mỹ nghệ. Thân tre, măng tre và lá tre có thể dùng làm thuốc.

    Gai nhọn tại mắt của tre gai

    Gai nhọn tại mắt của tre gai

    Bụi tre gai

    Bụi tre gai

  67. Sao chổi
    Còn có tên gọi dân gian là sao cờ hoặc sao tua, một thiên thể gần giống một tiểu hành tinh nhưng cấu tạo chủ yếu không phải từ đất đá, mà từ băng. Chúng bay quanh Mặt Trời theo quỹ đạo rất dẹt, khi đi vào vòng trong Hệ Mặt trời thì được mặt trời chiếu sáng, từ đó mới sinh ra các ánh sáng rực rỡ như ta thấy khi quan sát từ Trái Đất.

    Ngày xưa, theo quan niệm dân gian, sao chổi xuất hiện thường được cho là điềm loạn lạc.

    Sao chổi

    Sao chổi

  68. Hạ giới
    Nhân gian, theo quan niệm dân gian Trung Hoa và các nước đồng văn, là nơi người bình thường sinh hoạt, trái với thượng giới là nơi thần tiên ở.
  69. Đây là vua Tự Đức.
  70. Thất đức thất uy
    Mất đạo đức và uy quyền.
  71. Chim ri
    Một loài chim như chim sẻ, ăn thóc gạo và các loại hạt. Văn học thường dùng các thành ngữ "khóc như ri," "nổi như ri..."

    Chim ri

    Chim ri

  72. Kinh Bắc
    Một địa danh thuộc miền Bắc trước đây, hiện nay bao gồm toàn bộ ranh giới hai tỉnh Bắc Giang, Bắc Ninh và một phần nhỏ các tỉnh thành lân cận là Hà Nội (toàn bộ khu vực phía bắc sông Hồng là: Gia Lâm, Long Biên, Đông Anh, Mê Linh, Sóc Sơn); Hưng Yên (Văn Giang, Văn Lâm) và Lạng Sơn (Hữu Lũng). Là nơi có ba kinh đô cổ của Việt Nam gồm: Cổ Loa, Mê Linh và Long Biên. Kinh Bắc cùng với xứ Đoài là hai vùng văn hóa cổ nhất so với xứ Sơn Nam và xứ Đông, với nhiều di tích lịch sử có giá trị như Cổ Loa, đền Sóc, chùa Phật Tích, đền thờ Hai Bà Trưng...

    Quê hương Kinh Bắc có dân ca quan họlễ hội Gióng được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại.

    Hội Gióng

    Hội Gióng

  73. Xứ Đông
    Tên một địa danh cổ, một trấn ở phía Đông của Kinh thành Thăng Long xưa. Xứ Đông bao gồm một vùng văn hóa rộng lớn ở Đông Bắc đồng bằng sông Hồng, gồm các tỉnh Hải Dương (nằm ở trung tâm), Hải Phòng, Quảng Ninh và một phần đất thuộc hai tỉnh Hưng Yên và Thái Bình.

    Tứ xứ

    Tứ xứ

  74. Đàng Ngoài
    Còn có tên là Bắc Hà hoặc Đường Ngoài (ít gặp), tên gọi bắt nguồn từ thời Trịnh-Nguyễn phân tranh vào thế kỷ 17 đến cuối thế kỷ 18, chỉ phần lãnh thổ nước ta từ sông Gianh (tỉnh Quảng Bình) trở ra Bắc, được kiểm soát bởi vua Lê - chúa Trịnh. Đến năm 1786, quân Tây Sơn tiến ra Bắc diệt Trịnh, chính thức chấm dứt chính thể Đàng Ngoài.
  75. Ở đây là đạo Công giáo, phát triển mạnh ở nước ta dưới thời nhà Nguyễn.