Ai đi đâu đấy hỡi ai?
Hãy về học tập, một mai em chờ
Ai đi đâu đấy hỡi ai
Dị bản
Ai đi đâu đấy hỡi ai
Hãy về đọc sách mai đây tiến trường
Ai đi đâu đấy hỡi ai?
Hãy về học tập, một mai em chờ
Ai đi đâu đấy hỡi ai
Hãy về đọc sách mai đây tiến trường
Đò đưa, đò đẩy một chuyến năm tiền
Chị em ai nấy xuống thuyền mà đi
Nốt ruồi ở cổ, có lỗ tiền chôn
Lúng liếng là lúng liếng ơi
Miệng cười lúng liếng có đôi đồng tiền
Tôi với người muốn kết nhân duyên
Con thì đói khóc như ri
Chồng thì uống rượu li bì ngày đêm
Đem tiền mua lấy cái say
Hơi men giở giọng bầy nhầy bên tai
Bữa hôm cùng với bữa mai
Cua rang ốc nướng kéo dài thâu canh
Xương sông lá lốt lá chanh
Rau thơm rau húng tỏi hành chắt chiu
Trách ai không nghĩ một điều
Vợ con nheo nhóc nỡ liều uống say
Vì em nên anh mới say
Khi xưa ai biết cõi này có tiên
Đi ngang thấy tấm lụa đào
Muốn mua mà sợ giá cao nhiều tiền
Rẻ mua chơi, đắt nghỉ ngơi đồng tiền
Ngồi cầu ngồi quán chẳng sao
Hễ ai hỏi đến thì bao nhiêu tiền
Thổi lửa phùng mang mau dễ cháy
Đòi nợ hung bạo mới nhạy tiền
Nhà em nền đất, cột cau
Tuy nghèo tiền bạc, nhưng giàu tình thương
Cha làm ruộng, mẹ làm vườn
Nghèo mà thanh bạch, mọi đường cũng xong
Em tuy thấp kém mặc lòng
Việc nhà, việc nước, góp công giữ gìn
Qua thương bậu lắm bậu ơi
Cá chết vì mồi, khốn nạn thân qua
Qua than với bậu hết lời
Đừng tham núi ngọc đổi dời non tiên
Anh thương em lắm em ơi
Cá chết vì mồi, khốn nạn thân anh
Úm ba la con gà chọc tiết
Ai mua tiết thì phải trả tiền
Làng Láng thuộc Thăng Long xưa là nơi nổi tiếng với nghề trồng rau húng lủi, gọi là húng Láng.
Áo bà ba cùng với khăn rằn được coi là một trong những đặc trưng văn hóa Nam Bộ, mặc dù hiện nay áo đã được "cải tiến" khá nhiều.
Về nguồn gốc tên áo, nhà văn, nhà nghiên cứu Sơn Nam cho rằng “Bà Ba là người Mã Lai lai Trung Hoa. Chiếc áo bà ba mà người miền Nam ưa thích, vạt ngắn không bâu chính là kiểu áo của người Bà Ba” (Văn minh miệt vườn).
Lầu xanh quen lối xưa nay
Nghề này thì lấy ông này tiên sư
Xưa có người tên là Từ Thức, nhân đi chơi hội đã cởi áo gấm giúp một cô gái xinh đẹp. Sau chàng từ quan, tìm thú vui nhàn tản. Một lần ra cửa biển Thần Phù, Từ Thức đi qua núi và thấy một hang động rất đẹp, được bà chủ động gả cho Giáng Hương, chính là người chàng đã giúp thuở nào. Được một năm, Từ Thức nhớ nhà, muốn về thăm. Giáng Hương sắm xe và gài sẵn phong thư kín nói lời ly biệt. Khi về đến quê nhà, tất cả đều đã đổi thay, không ai biết chàng là ai. Chàng hỏi một cụ già râu tóc bạc phơ thì mới biết đó là cháu ba đời của mình. Từ Thức buồn rầu, muốn lại ngồi lên xe tiên để đi, thì xe đã hóa thành chim loan bay đi mất rồi. Mở bức thư của Giáng Hương ra xem, chàng chỉ thấy có dòng chữ: "Ở nơi tiên cảnh, cùng nhau kết bạn, nay duyên xưa đã hết, không còn mong hội ngộ." Về sau, người ta thấy Từ Thức đội nón nhẹ đi vào núi Hoàng Sơn (thuộc huyện Nông Cống, Thanh Hóa) rồi không thấy trở về nữa.
Hang động nơi Từ Thức gặp tiên nay là động Từ Thức.