Nào khi gánh nặng anh chờ
Qua truông anh đợi bây giờ nghe ai?
– Qua truông anh đạp lấy gai
Anh ngồi anh lể nào ai mượn chờ
Nào khi gánh nặng em chờ
Dị bản
Nào khi gánh nặng em chờ
Qua truông em đợi, bây giờ phụ em
Nào khi gánh nặng anh chờ
Qua truông anh đợi bây giờ nghe ai?
– Qua truông anh đạp lấy gai
Anh ngồi anh lể nào ai mượn chờ
Nào khi gánh nặng em chờ
Qua truông em đợi, bây giờ phụ em
Giàu từ trong trứng giàu ra,
Khó từ ngã bảy ngã ba khó về.
Tiếc công anh đào ao thả cá
Năm bảy tháng trời người lạ tới câu.
Uổng công anh đào ao thả cá
Năm bảy tháng trường người lạ tới câu.
Một người làm quan, cả họ được nhờ
Một người làm quan, sang cả họ
Một người làm quan cả họ được cậy
Một người làm bậy cả họ mất nhờ
Vì tình anh phải đi đêm
Vấp năm bảy cái, đất vẫn êm hơn giường
Vì tình anh phải đi đêm
Ngã năm bảy cái, đất êm hơn giường
Vì tình anh phải đi đêm
Ngã năm ngã bảy, đất êm hơn giường
Vì nàng anh phải đi đêm
Ngã năm ba cái, đất mềm không đau
Bên ngoài lồng lộng như gương
Bên trong nát bấy như đường trâu đi
Con chim mày ở trên cây
Tao đứng dưới gốc mày bay đường nào?
Em ơi đừng thấy nhỏ mà khinh
Con thằn lằn bây lớn ôm cây cột đình tổ cha!
Ngó vô Linh Đổng mây mờ
Nhớ Mai Nguyên soái dựng cờ đánh Tây
Hầm Hô cữ nước còn đầy
Còn gương phấn dũng, còn ngày vinh quang.
Vui từ trong cửa vui ra
Buồn từ ngã bảy, ngã ba buồn về.
Vui từ cửa ngõ vui ra
Buồn từ đường cái, ngã ba buồn về
Ai về em gởi bức thơ
Hỏi người bạn cũ bây giờ nơi nao
Non kia ai đắp mà cao
Sông kia, biển nọ ai đào mà sâu
Chuyến đò còn nhớ nhau thay
Huống chi phận thiếp bấy lâu nay cùng chàng.
Già thì già tóc già râu
Đêm ba bảy vợ, già đâu có già!
– Một nhánh trảy, năm bảy cành mai
Một nhánh mai, trăm hai nhánh thị
Chữ văn, chữ sĩ, anh đối trọn trăm câu
Đối rồi, anh hỏi chị em đâu?
Nếu chị em không có, anh bắt em hầu mười năm
– Một bụi tre sinh năm, ba bụi trảy
Một nhánh trảy sinh năm, bảy cây viết son,
Em có gả chị cho anh thì nhân nghĩa vẫn còn
Em mà không gả, anh bắt giữ con trọn đời
Hồn anh như hoa cỏ may
Một chiều cả gió bám đầy áo em
(Hoa cỏ may - Nguyễn Bính)
Do từng đậu cử nhân và là con thứ bảy trong gia đình, ông còn có tục danh là ông Bảy Cử.
Lờ có nhiều loại: Loại đại dài từ 0,5 đến 1 m, gọi là “lờ bầu”, thả chỗ nước sâu như sông, hồ để bắt cá diếc, sảnh, dầy. Loại tiểu gọi là “lờ đồng”, thả nơi nước cạn như ao, đìa, ruộng bắt cá trê, rô, sặc, mương, nhét…
Trước giờ ra về, bao giờ nó cũng bóc thị ra và hai đứa tôi cùng ăn. Ăn xong, chúng tôi không quên dán những mảnh vỏ thị lên bàn rồi ngoẹo cổ nhìn. Những mảnh vỏ thị được bóc khéo khi dán lên bàn hoặc lên tường trông giống hệt một bông hoa, có khi là hoa quì, có khi là hoa cúc đại đóa, có khi là một loài hoa không tên nào đó màu vàng.
(Mắt biếc - Nguyễn Nhật Ánh)