Chàng đà yên phận tốt đôi
Dị bản
Chàng giờ an phận tốt đôi
Em đây lỡ lứa mồ côi một mình
Chàng giờ an phận tốt đôi
Em đây lỡ lứa mồ côi một mình
Bây giờ mới được thế này
Xưa kia cắn rận bảy ngày trừ cơm
Thời giờ thấm thoát thoi đưa,
Nó đi đi mãi không chờ đợi ai.
Bao giờ trên núi hết ong
Dưới đồng hết cỏ trong lòng hết thương
Bao giờ cho sóng bỏ gành
Cù lao bỏ bể thì anh bỏ nàng
Bây giờ giáp mặt đinh ninh
Xa xôi ai có thấu tình chăng ai?
Hay là người đã nghe ai
Thả chông đường nghĩa, ráp gai lối tình?
Bây giờ đôi ngả xa xôi
Có thương thì phải mua vui bán sầu
Bữa rày mồng tám tháng ba
Chính thức húy nhật, thật là giỗ anh
Bát cơm, đĩa cá, lưng canh
Nắm rau, hạt muối, xin anh hãy về
Vợ này là vợ chính thê
Phải đời chồng trước thì về ngửi hương
Giỗ này hết khó, hết thương
Hết trông, hết đợi, đoạn trường khúc nôi
Hết buồn rồi lại sang vui
Tiết phu tiết phụ như tôi mấy người?
Nhất tuần mời, nhị tuần mời
Ba năm nay tôi không chửa, sướng đời anh chưa?
Bây giờ tôi được, anh thua
Cho tôi sinh năm đẻ bảy, tôi mua cho ngàn vàng
Vợ chồng đồng tịch, đồng sàng
Đồng sinh đồng tử, giỗ chàng hôm nay
Tại nam quy nam! Tại tây quy tây!
Anh đừng về nữa, nỏ có chi đây mà về!
Tới giờ còn ngủ chì ì
Mặt trời đã mọc, chưa đi ra cày
Anh về sương gió lạnh lùng
Ở đây chung gối chung mùng với em
Anh giơ roi đánh thiếp sao đành
Nhớ khi đói khổ, rách lành có nhau.
Bao giờ Chợ Quán hết vôi
Thủ Thiêm hết giặc, em thôi đưa đò
Bắp non mà nướng lửa lò,
Đố ai ve được con đò Thủ Thiêm
Kết tóc xe tơ có nghĩa là cưới nhau, thành vợ thành chồng.
Lá thư tình xưa nhớ lúc trao tay
Còn e ấp thuở duyên vừa mới bén
(Lá thư ngày trước - Vũ Hoàng Chương)
Cuối năm 1771, khi Xuân Quận công Nguyễn Nghiễm hồi hưu, dân làng dựng một ngôi đình tạm ba gian, ngay trước bến sông, cắm cờ rợp trời từ bến sông đến cổng chính gia tộc họ Nguyễn để đón rước. Để đáp lại tấm lòng của dân làng, ông đã bỏ tiền xây lại ngôi đình trước bến thành ngôi đình khang trang, làm nơi hội họp và lễ mừng đăng khoa. Từ đó, bến sông này được mang tên bến Giang Đình. Hiện nay tại đây chỉ còn lại vài dấu vết như gốc cây đa, giếng nước, lò nung vôi.