Ca dao Mẹ

  • Tài trai đâu đáng tài trai

    Tài trai đâu đáng tài trai
    Tổ tôm xóc đĩa dông dài cả đêm
    Canh trước tướng hãy còn tiền
    Canh sau thua hết, ngồi bên lọ hồ
    Cái ngoảnh đi, đưa tay thò
    Cái ngoảnh lại, giả đò chén say
    Còn tiền đánh cái cũng hay
    Hết tiền đi ngủ, cũng hay giật mình
    Tưởng sự tình, bạc nầy hai sấp
    Chẳng ai ngờ, nó lại sấp ba
    Bây giờ tướng nghĩ chẳng ra
    Áo đem bán hết, trở ra mình trần
    Về giữa sân, vạch quần ra bắt rận
    Ở trong nhà, vợ giận chẳng cơm
    Bực mình, tướng chúi ổ rơm,
    Chẳng dám hạch nước, hạch cơm, hạch trầu
    Vợ thương chồng ra mầu rét mướt
    Đem tiền đi để chuộc áo về
    Từ nay tướng mới xin thề
    Còn đi đánh bạc, chẳng về chi đây

    Dị bản

    • Quan tướng là quan tướng dai
      Tổ tôm xóc đĩa dông dài cả đêm
      Canh trước còn khi êm êm
      Canh sau thua thiệt ngồi bên lọ hồ
      Cái ngoảnh đi thò tay móc lọ
      Cái ngoảnh lại chuyện trò tỉnh say
      Được thời đàn hát cũng hay
      Thua thời đi ngủ lại hay giật mình

    • Trời sinh ra ông tướng tài,
      Tổ tôm xóc đĩa dông dài cả đêm.
      Canh trước tướng hãy còn tiền,
      Canh sau thua hết, ngồi bên lọ hồ.
      Cái quay đi, thò tay móc lọ
      Cái ngoảnh lại, giả bộ chén say.
      Còn tiền đánh cái cũng hay,
      Hết tiền đi ngủ, lại hay giật mình.
      Tưởng sự tình bạc nầy hai sấp,
      Chẳng ai ngờ nó lại sấp ba.
      Bấy giờ quan tướng thua ra
      Áo quần cố hết, trở ra mình trần.
      Về đến sân, vạch quần bắt rận
      Vợ trong nhà tức giận không cơm.
      Tướng vào tướng ngự ổ rơm,
      Thấy con kẹt cửa dọn cơm, tướng mừng.
      Khi tướng đi, cơm gà cá gỏi,
      Khi tướng về, cơm thổi với khoai.
      Tướng ngồi chép miệng thở dài,
      Bụng đói cật rét, đánh hai bát liền.
      Ăn xong, vợ nó nghiền nó chửi,
      – Thừa cơm mà cho lão hủi nó ăn.
      Thừa quần, thừa áo, thừa khăn,
      Làm tao đi chuộc mấy lần mấy phen.
      Chẳng thà tao có đồng tiền,
      Tao vất xuống giếng, tao liền thấy tăm.
      – Bạc thời canh đỏ, canh đen,
      Nào ai có dại mang tiền vất đi.
      Ngày mai bu mày thử đi,
      Xem bạc tướng đánh vậy thì làm sao.
      Vợ tướng mới ghé lưng vào,
      Mở canh xóc đĩa được bao tiền đầy.
      Vợ tướng mới đội về ngay,
      Miệng cười hớn hở như cây sênh tiền.
      Về nhà đem ra đếm liền,
      Gọi con lấy lõi xỏ tiền cho tao.
      Thì thào mà cất tiền vào,
      Để ai bán ruộng cho tao tậu dần.
      Gà đâu con nhốt vào bu,
      Bố có uống rượu thì mua mấy đồng.
      Bấy giờ tướng chúi ổ rơm,
      Chẳng dám hạch nước, hạch sơm, hạch trầu.
      Vợ thương chồng ra màu rét mướt,
      Đem tiền đi mà chuộc áo về.
      Từ rày tướng  hẳn xin thê:
      Còn đi cờ bạc chẳng về chi đây.

  • Bình luận

Cùng thể loại:

Có cùng từ khóa:

Chú thích

  1. Tổ tôm
    Một trò chơi bài lá phổ biến trong dân gian ngày trước (hiện chỉ thấy được chơi ở nước ta), thường chơi trong các dịp lễ, Tết. Tên gọi của trò chơi được đọc chệch ra từ chữ "tụ tam" nghĩa là hội tụ của ba lại hàng Văn, Vạn và Sách.

    Lá bài tổ tôm

    Lá bài tổ tôm

  2. Xóc đĩa
    Lối đánh bạc ăn tiền bằng cách xóc bốn đồng tiền (hoặc bốn miếng bìa có hai mặt khác nhau) trong một cái đĩa, trên có bát úp kín, ai đoán trúng có mấy đồng sấp, mấy đồng ngửa thì được. Có nơi gọi xóc đĩa là xóc dĩa, hoặc có tên khác là mở bát.

    Đồ để xóc đĩa

    Đồ để xóc đĩa

  3. Canh
    Đơn vị tính thời gian ban đêm ngày xưa. Người xưa chia một đêm ra thành năm canh (đêm năm canh, ngày sáu khắc). Theo đó, canh một là giờ Tuất (19-21h), canh hai là giờ Hợi (21-23h), canh ba là giờ Tí (23h-1h sáng), canh tư là giờ Sửu (1h-3h), canh năm là giờ Dần (3h-5h). Mỗi lúc sang canh thường có trống điểm, gọi là trống canh.
  4. Cái
    Cũng gọi là nhà cái, người nắm vai chủ của một ván bài, sới bạc hoặc cuộc cá cược.
  5. Thời
    Thì. Xưa vì kị húy vua Tự Đức (Nguyễn Phúc Thì) nên chữ này được đọc chạnh đi thành "thời."
  6. Rận
    Loại côn trùng nhỏ, thân dẹp, không cánh, hút máu, sống kí sinh trên người và một số động vật.
  7. Sênh tiền
    Còn gọi là sinh tiền, tên cổ là phách sâu tiền hay phách quán tiền, một loại nhạc cụ gõ độc đáo của Việt Nam. Sênh tiền được làm từ ba thanh gỗ làm phách. Hai thanh nối bằng dây da là lá phách kép. Một thanh rời lá phách đơn, còn gọi là "con dao." Cuối hai thanh phách kép có đóng đinh, trên xâu đồng tiền. Trên các thanh đều có rãnh khứa. Khi đánh phách, tay trái cầm lá phách kép, tay phải cầm lá phách đơn vừa đập, vừa rung, vừa quẹt tạo ra các tiết tấu rộn ràng.

    Sinh tiền

    Sênh tiền

    Một số dân tộc miền núi phía Bắc nước ta dùng nhạc cụ này biến tấu thành điệu múa gọi là múa sênh tiền.

    Tiết mục múa sênh tiền của dân tộc Mường

  8. Trần Phương
    Tên thật Vũ Văn Dung, từng giữ chức phó Thủ tướng (1982-1986). Ông là thành viên sáng lập Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội (1996).

    Trần Phương

  9. Tố Hữu
    Còn gọi là Lành, tên thật Nguyễn Kim Thành, nhà thơ kiêm chính trị gia, từng giữ chức phó Thủ tướng (1980-1986).

    Tố Hữu

  10. Năm 1985, nhà nước Việt Nam thực hiện cải cách giá - lương - tiền nhằm xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu-bao cấp; nhưng khi áp dụng thì cuộc cải cách này đã khiến nền kinh tế Việt Nam lâm vào hỗn loạn.

    Cuộc đổi tiền 1985 gây ra lạm phát phi mã

  11. Đoàn Trọng Truyến
    Bộ trưởng, Tổng Thư ký Hội đồng Bộ trưởng kiêm Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ (1984-1987).

    Đoàn Trọng Truyến

  12. Trong những năm đầu giải phóng miền Bắc (1954), dưới chế độ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Bộ Thương nghiệp đã liên tiếp đưa ra nhiều quyết định tách và sát nhập các công ty.
  13. Tơ hồng
    Một loại cây dây leo, thân có màu vàng, đôi khi màu da cam hoặc đỏ. Tơ hồng là thực vật sống kí sinh, một khi tìm được cây chủ thích hợp sẽ bám vào và phát triển rất mạnh, đồng thời rễ trong đất cũng bắt đầu tiêu hủy đi. Dây và hạt tơ hồng có thể dùng làm vị thuốc Đông y.

    Dây tơ hồng

    Dây tơ hồng

  14. Giành
    Còn gọi là trác, đồ đan bằng tre nứa hoặc mây, đáy phẳng, thành cao, thường dùng để chứa nông sản, gặp ở miền Bắc và một số tỉnh Bắc Trung Bộ.

    Cái giành

    Cái giành

  15. Phúc
    Những điều tốt lành. Kinh Thi chia ra năm phúc: Giàu, Yên lành, Thọ, Có đức tốt, và Vui hết tuổi trời (theo Thiều Chửu). Từ thời nhà Nguyễn, chữ này được đọc trại ra thành phước vì kị húy họ Nguyễn Phúc của vua chúa nhà Nguyễn.