Có người mặt trắng như bông
Có một ông chồng mặt đỏ như son
Ban đêm thấy đặng trăm con
Ban ngày trốn hết chẳng còn một ai
Cha đi thăm thẳm đường dài
Mẹ thời ở lại có thai trong lòng
Tìm kiếm "Cầu Tràng tiền"
-
-
Mười lăm mười sáu tốt bông
-
Mười lăm mười sáu đang xinh
-
Bằng trang cây kim mà chìm đáy bể
-
Bằng trang cái nón, cả bọn được nhờ
-
Bằng trang sợi chỉ, thủ thỉ ngoài hè
-
Bằng trang ngón tay, ngủ ngày nó ngáy ton ton
-
Bằng trang mũi chĩa, nó xỉa lên trời
-
Thoạt đẻ thì mọc hai sừng
-
Da em trắng trẻo mịn màng
-
Trắng như bông lòng anh không chuộng
-
Nhà có bà ăn cơm trắng
-
Một đàn cò trắng phau phau
-
Khi xưa em trắng như ngà
-
Bài này có từ ngữ và/hoặc nội dung nhạy cảm.
Hãy cân nhắc trước khi bấm xem.Mình tròn da lại trắng xinh
-
Một bầy cò trắng
-
Trăng lên có chiếc sao chầu
-
Chân đen mình trắng
-
Thân em vừa trắng vừa tròn
-
Ngoài xanh trong trắng như ngà
Chú thích
-
- Bằng trang
- Bằng cỡ, cỡ như.
-
- Bình vôi
- Ngày xưa nhân dân ta thường hay ăn trầu với cau và vôi. Bình vôi là dụng cụ bằng gốm hay kim loại để đựng vôi ăn trầu, đôi khi được chế tác rất tinh xảo, và tùy theo hình dạng mà cũng gọi là ống vôi.
-
- Sào
- Gậy dài, thường bằng thân tre. Nhân dân ta thường dùng sào để hái trái cây trên cao hoặc đẩy thuyền đi ở vùng nước cạn.
-
- Trầu
- Còn gọi là trầu không, một loại dây leo dùng làm gia vị hoặc làm thuốc. Lá trầu được nhai cùng với vôi tôi hay vôi sống và quả cau, tạo nên một miếng trầu. Ở nước ta có hai loại trầu chính là trầu mỡ và trầu quế. Lá trầu mỡ to bản, dễ trồng. Trầu quế có vị cay, lá nhỏ được ưa chuộng hơn trong tục ăn trầu.
Người xưa có phong tục mời ăn trầu khi gặp nhau. Trầu cau tượng trưng cho tình yêu đôi lứa, vợ chồng, nên là một lễ vật không thể thiếu trong các dịp cưới hỏi.
Nghe nghệ sĩ nhân dân Thu Hiền hát bài Hoa cau vườn trầu.



