Tay bưng chén rượu hồng đào
Miệng mời quân tử uống vào cho vui
Tay bưng chén rượu hồng đào
Dị bản
Hai tay bưng chén rượu đào
Xin mời quân tử uống vào cho say
Hai tay bưng chén rượu đào
Xin mời quân tử uống vào cho say
Thiếp đà lựa chuối thiếp mua
Đèn nhang thiếp cũng lựa chùa thiếp tu
Thiếp về lựa chuối thiếp mua
Lựa hương thiếp thắp, lựa chùa thiếp tu
Sao vua chín cái nằm kề
Thương em từ thuở mẹ về với cha
Sao vua chín cái nằm ngang
Thương em từ thuở mẹ mang trong lòng
Sao vua chín cái nằm chồng
Thương em từ thuở mẹ bồng trên tay
Sao vua chín cái nằm ngay
Thương em từ thuở biết đi biết bò.
Sao vua chín cái nằm kề
Thương em từ thuở má về với ba
Chiều chiều buồn miệng nhai trầu,
Nhớ người quân tử bên cầu ngẩn ngơ
Trao thư thì chẳng muốn cầm
Thư rơi xuống đất, khóc thầm với thư
Kiến bất thủ nhi tầm thiên lí
Thương không thương tự ý của mình
Đừng như Bùi Kiệm ép tình Nguyệt Nga
Ngọc lành còn đợi giá cao
Chờ người quân tử em giao nghĩa tình
Thôi em chả dám đa mang nữa
Chẳng buộc vào chân sợi chỉ hồng
(Xuân tha hương - Nguyễn Bính)
Trai anh hùng, gái thuyền quyên
Phỉ nguyền sánh phượng, đẹp duyên cưỡi rồng
(Truyện Kiều)
Các từ ngữ bể dâu, bãi bể nương dâu, dâu biển (biển dâu) đều chỉ sự biến đổi, thăng trầm của cuộc đời.
Trải qua một cuộc bể dâu
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng
(Truyện Kiều)
Quân tại Tương Giang đầu
Thiếp tại Tương Giang vĩ
Tương tư bất tương kiến
Đồng ẩm Tương Giang thủy
Dịch:
Chàng ở đầu sông Tương
Thiếp ở cuối sông Tương
Nhớ nhau chẳng thấy mặt
Cùng uống nước sông Tương
Nghe bài hát Ai về sông Tương.
Trịnh Hâm khỏi giết rất vui,
Vội vàng cúi lạy chân lui ra về.
Còn người Bùi Kiệm máu dê,
Ngồi chai bề mặt như sề thịt trâu.
Kiều Nguyệt Nga được người dân Nam Bộ xem là biểu tượng của lòng chung thủy.
Người xưa có phong tục mời ăn trầu khi gặp nhau. Trầu cau tượng trưng cho tình yêu đôi lứa, vợ chồng, nên là một lễ vật không thể thiếu trong các dịp cưới hỏi.
Nghe nghệ sĩ nhân dân Thu Hiền hát bài Hoa cau vườn trầu.