Không đi thì nhớ Đồng Gieo
Dị bản
Không đi thì mắc cái eo
Có đi thì sợ cái đèo Quán Cau
Không đi thì mắc cái eo
Có đi thì sợ cái đèo Quán Cau
Chưa đi anh đã vội về
Đã đi đừng vội, vội về đừng đi.
Chưa đi anh đã vội về
Hay là xuân giục, vội về với xuân?
Nước ròng chảy tới Nam Vang,
Làm thơ để lại em khoan lấy chồng,
Tay bưng chậu cúc năm bông,
Chờ anh chẳng đặng nên trồng xuống đây.
Anh đi làm mướn nuôi ai
Cho áo anh rách, cho vai anh mòn?
– Anh đi làm mướn nuôi con
Áo rách mặc áo, vai mòn mặc vai
Nhà gần chợ để nợ cho con
Hay đi chợ để nợ cho con
Anh đi, em mới trồng hoa
Em về, hoa nở đặng ba trăm nhành
Một nhành là chín búp xanh
Bán ba đồng một, để dành có nơi
Bây giờ em đã thảnh thơi
Cậy anh tính thử vốn lời bao nhiêu?
Của đi thay người
Ở lại thì sợ huyện đòi
Ra đi thì nhớ cá mòi kho me.
Ra đi gặp vịt cũng lùa
Gặp duyên cũng kết, gặp chùa cũng tu
Ra đi gặp vịt thì lùa
Gặp cướp thì đánh, gặp chùa thì tu
Ra đi gặp vịt thì lùa
Gặp gái cũng chọc, gặp chùa cũng tu
Về địa danh Quán Cau, có câu chuyện sau: Ngày xưa, nơi chân đèo Quán Cau có một bà cụ già không rõ từ đâu đến. Bà cất quán bán trầu cau, khách bộ hành qua đèo khá dài nên dừng chân giải khát, mua trầu cau ăn nghỉ rồi tiếp tục hành trình. Người đi ra Bắc đến chân đèo thì chờ người bạn đường, cũng mua trầu cau ăn rồi tiếp tục trèo đèo. Vì thế có tên đèo Quán Cau.
Theo học giả Vương Hồng Sển, địa danh Châu Đốc có nguồn gốc từ tiếng Khmer moat-chrut, nghĩa là "miệng heo."
Cần vương Nam Bắc kết tơ đồng
Cứu giúp đường kia khổ chẳng thông
Muôn thuở cương thường ai Ngụy Tháo?
Trăm năm tâm sự có Quan Công
Non sông phần tự thơ trời định
Cây cỏ buồn trông thấy đất cùng
Nhắn bảo nổi chìm ai đó tá?
Chớ đem thành bại luận anh hùng.