Cá tươi thì xem lấy mang
Người khôn xem lấy đôi hàng tóc mai
Tóc mai sợi vắn sợi dài
Có đâu mặt rỗ đá mài không trơn
Cá tươi thì xem lấy mang
Dị bản
Cá tươi xem lấy đôi mang
Người khôn xem lấy đôi hàng tóc mai
Cá tươi thì xem lấy mang
Người khôn xem lấy đôi hàng tóc mai
Tóc mai sợi vắn sợi dài
Có đâu mặt rỗ đá mài không trơn
Cá tươi xem lấy đôi mang
Người khôn xem lấy đôi hàng tóc mai
Nhớ chàng lắm lắm chàng ơi
Nhớ chỗ chàng đứng nhớ nơi chàng nằm
Vắng chàng em vẫn hỏi thăm
Nào em đã bỏ mấy năm mà hờn!
Chàng nghe kẻ đặt người đơm
Chàng nghe thấy tiếng chàng hờn cho cam
Chàng ơi em nhớ chàng thay
Nỡ nào chàng dứt mối dây cho đành
Quyết lên trời, kiện đến ông Tơ
Nơi thương không vấn, vấn vơ nơi nào?
Ta về ta ở làng ta,
Ôm cây cột cháy vẫn là thơm danh
Vì tình anh phải đi đêm
Vấp năm bảy cái, đất vẫn êm hơn giường
Vì tình anh phải đi đêm
Ngã năm bảy cái, đất êm hơn giường
Vì tình anh phải đi đêm
Ngã năm ngã bảy, đất êm hơn giường
Vì nàng anh phải đi đêm
Ngã năm ba cái, đất mềm không đau
Sống thì chẳng cho ăn nào
Chết thì cúng giỗ, mâm cao cỗ đầy
Chàng dù nghĩ đến tình xa
Đem tình cầm sắt đổi ra cầm kỳ
(Truyện Kiều)
Theo học giả Vương Hồng Sển, địa danh Châu Đốc có nguồn gốc từ tiếng Khmer moat-chrut, nghĩa là "miệng heo."
Đã nguyền hai chữ đồng tâm
Trăm năm thề chẳng ôm cầm thuyền ai
(Truyện Kiều)
Tọa trung khấp hạ tùy tối đa,
Giang Châu tư mã thanh sam thấp.
Dịch nghĩa:
Trong những người ngồi (trong thuyền) ấy ai là người khóc nhiều nhất
Tư mã Giang Châu ướt đẫm vạt áo xanh
Bản dịch của Phan Huy Thực:
Lệ ai chan chứa hơn người?
Giang châu Tư mã đượm mùi áo xanh.
Đồng thị thiên nhai luân lạc nhân,
Tương phùng hà tất tằng tương thức.
Dịch nghĩa:
Cùng là kẻ lưu lạc ở nơi chân trời
Gặp gỡ nhau hà tất đã từng quen biết
Bản dịch của Phan Huy Thực:
Cùng một lứa bên trời lận đận,
Gặp gỡ nhau lọ sẵn quen nhau.