Tìm kiếm "đắng như"

  • Chợ nào chợ chẳng có quà

    Chợ nào chợ chẳng có quà
    Người nào chả biết một và bốn câu
    Ở đâu đất đỏ như nâu
    Sao cô không hát vài câu huê tình
    Hỏi cô cô cứ làm thinh
    Để ta hát mãi một mình sao đang
    – Giã ơn quân tử nghìn vàng
    Buông ra cho khách hồng nhan được nhờ
    Cớ gì mà nắm giữa đường
    Nợ chàng không nợ vay chàng không vay
    Em van chớ nắm cổ tay
    Buông ra em nói lời này thở than
    Xin chàng chớ vội nắm ngang
    Xa xôi cách mấy dặm đàng cũng nên
    Tơ hồng chỉ thắm là duyên
    Bao giờ em thuận thì nên bấy giờ

  • Con gái lấy thợ câu cua

    Một thương em nhỏ móng tay
    Hai thương em bậu khéo may yếm đào
    Ba thương cám cảnh cù lao
    Bốn thương em bậu miệng chào có duyên
    Năm thương má lúm đồng tiền
    Sáu thương em bậu như tiên chăng là
    Bảy thương em có nguyệt hoa
    Tám thương em bậu làm qua phải lòng
    Chín thương nước mắt ròng ròng
    Mười thương em bậu phải lòng qua chăng?
    Mười một em hãy còn son
    Mười hai vú dậy đã tròn như vung
    Mười ba em đã có chồng
    Bước qua mười bốn trong lòng thọ thai

  • Thiếp nay thi lễ con nhà

    Thiếp nay thi lễ con nhà
    Thấy chàng mĩ mạo, nết na dịu dàng
    Cho nên lòng muốn đa mang
    Biết rằng quân tử có màng hay không ?
    Ngẫm duyên kỳ ngộ tương phùng
    Lứa đôi ai có đẹp bằng Tương Như ?
    Cầu hoàng một khúc lẳng lơ
    Trác Văn Quân luống ngẩn ngơ lòng sầu
    Vì đâu để lấy được nhau
    Nếu không duyên nợ có đâu thế này
    Đôi ta nay gặp nhau đây
    Ba sinh âu hẳn nợ dầy chẳng không
    Xin chàng hãy quyết đành lòng
    Nâng khăn sửa túi, má hồng tựa nương
    Họa may thau lộn với vàng

  • Hồi nhỏ tôi ở với cậu mợ

    Hồi nhỏ tôi ở với cậu mợ
    Mợ cho ăn cơm nguội
    Uống nước lạnh, ngủ nhà ngoài
    Đêm khuya đau bụmg tôi lần tôi vô
    Mợ nghe sục sạc, mợ hỏi: đứa mô
    Thưa rằng đau bụng con vô kiếm gừng
    Tay dang mợ rút múi dây lưng
    Độc thì ta giải độc chớ kiếm gừng làm chi

    Dị bản

    • Hồi nhỏ tôi ở với cậu với mợ
      Cậu ăn rồi cậu bỏ cậu đi
      Mợ ở nhà mợ ngủ như Địch Nghi
      Quần áo tuột hết giống chi cũng không còn
      Đầy tớ lâu ngày thái thể bà con
      Chết thì con chịu chết, thấy đồ ngon con không từ

  • Ra về mai đã đến chưa

    Ra về mai đã đến chưa
    Để em bưng bát cơm trưa đợi chờ
    – Cơm trưa em hãy ăn đi
    Còn như cơm tối em thì đợi anh

    Dị bản

    • Chàng về, mai đã lên chưa ?
      Để em bưng bát cơm trưa đợi chờ.
      Đã chờ cho đáng công chờ
      Chờ cho muống mọc lên bờ trổ bông.

  • Trực nhìn đầu non hoa nở

    Trực nhìn đầu non hoa nở
    Cảm thương mụ vợ không con
    Cớ mần răng khô héo hao mòn
    Sợ e thác nhục, xương còn bọc da
    Ra đường thấy vợ người ta
    Mập mịa chắc chắn, vợ nhà khô khan
    Đêm nằm tôi thở, tôi than
    Cầu trời, khấn Phật cho nàng sinh thai
    Bất kỳ con gái, con trai
    Sanh đặng một chút hôm mai thỏa lòng
    Vợ chồng tôi cui cút một mình
    Không con có của, để dành ai ăn?
    Vừa may sinh đặng một thằng

  • Chiều chiều ra đứng bờ sông

    Chiều chiều ra đứng bờ sông
    Hỏi thăm chú lái: Nào chồng em đâu?
    – Chồng em đang ở Khuê Cầu
    Đánh thua quay đất những đầu tháng giêng
    Cầm khăn, bán áo cổ kiềng
    Bán nón quai lụa, bán chiêng, cố nồi
    Bây giờ túng lắm em ơi
    Có tiền riêng giấu mẹ mà nuôi lấy chồng!

  • Biết ai than thở sự tình

    Biết ai than thở sự tình
    Chẳng qua mình lại biết mình mà thôi
    Lấy chồng gặp phải kẻ tồi
    Cho nên lòng những bồi hồi đắng cay
    Cả ngày chỉ rượu sưa say
    Khi nay thuốc phiện khi nay tài bàn
    Nói ra mang tiếng phũ phàng
    Nín đi thì não can tràng xiết bao
    Cũng thì phận gái má đào
    Người thì gặp được anh hào đảm đang
    Mình thì cũng dự phấn hương
    Gặp nơi lêu lổng chẳng thương chút nào

  • Nhớ em tưởng bóng ngày đêm

    Nhớ em tưởng bóng ngày đêm
    Nhớ rằng em trắng má em đỏ hồng
    Nhớ em vắng vẻ cô phòng
    Một mình vò võ đêm đông lạnh lùng
    Nhớ em lụy nhỏ ròng ròng
    Xe duyên chẳng đặng đau lòng trời ơi
    Chỉ còn đêm nữa mà thôi
    Giã từ em ở lại, anh hồi cố hương

  • Thằng Tây nó có ống nhòm

    Thằng Tây nó có ống nhòm
    Nó nhìn nó đếm, nó nom từng người
    Sú ba dăng nó chạy đâu rồi
    Đến khi nó đến cho vài ba toong
    Thằng Tây lại chửi “cu-xoong”
    Cu li ức quá chửi không ra lời
    – Hỡi anh em những người làm mỏ
    Tay mi-nơ sẵn có nghề riêng
    Làm đâu cũng lấy bằng tiền
    Làm lò ông Thuận mất quyền lợi to
    Việc than gio trong lò chẳng khá
    Than khó làm mà giá chẳng cao
    Anh em ta đấm buồi vào!

  • Đêm qua trời sáng trăng rằm

    Đêm qua trời sáng trăng rằm
    Anh đi qua cửa, em nằm không yên
    Mê anh chẳng phải mê tiền
    Thấy anh lịch sự, có duyên, dịu dàng
    Thấy anh em những mơ màng
    Tưởng rằng đây đấy phượng hoàng kết đôi
    Thấy anh chưa kịp ngỏ lời
    Ai ngờ anh đã vội dời gót loan
    Thiếp tôi mê mẩn canh tàn
    Chiêm bao như thấy anh chàng ngồi bên
    Tỉnh ra lẳng lặng yên nhiên
    Tương tư bệnh phát liên miên cả ngày
    Nghĩ rằng duyên nợ từ đây
    Xin chàng hãy lại nơi đây chút nào
    Cho thiếp tỏ thiệt với nao!

  • Vè say rượu

    Ngôn đa ngữ thất
    Nói trật nhiều điều
    Tiền rượu chúng kêu
    Còn ngồi nói pháo
    Nhiếc rằng nói láo
    Uống chẳng biết lo
    Rượu muốn đong cho
    Tiền không chịu trả
    Say rồi bậy bạ
    Nói dọc nói ngang
    Nằm sá nằm đàng
    Té lên té xuống
    Rượu bao nhiêu cũng uống
    Uống quá mẹ hũ chìm
    Nói như bìm bìm
    Leo dây leo nhợ

  • Cầm tay lại nắm lấy tay

    Cầm tay lại nắm lấy tay
    Ai bóc nên trắng, ai day nên tròn
    Tay em vừa trắng vừa tròn
    Anh cầm mát lạnh như hòn đá xanh
    Tay em nắm lấy tay anh
    Dù ai nói quẩn nói quanh mặc lòng
    Tay ấy đáng vợ đáng chồng
    Duyên trời đã định tơ hồng đã xe

  • Một thương em nhỏ móng tay

    Một thương em nhỏ móng tay
    Hai thương em bậu khéo may yếm đào
    Ba thương cám cảnh phù lao
    Bốn thương em bậu miệng chào có duyên
    Năm thương má lúm đồng tiền
    Sáu thương em bậu như tiên chăng là
    Bảy thương em có nguyệt hoa
    Tám thương em có bậu làm qua phải lòng
    Chín thương nước mắt ròng ròng
    Mười thương em bậu phải lòng qua chăng
    Mười một thương em hãy còn son
    Mười hai thương vú dậy đã tròn như vung
    Mười ba thương em đã có chồng
    Bước qua mười bốn trong lòng thọ trai
    Mười lăm sinh đặng con trai
    Sang năm mười sáu đặng hai đời chồng
    Mười bảy em còn ở không
    Đến năm mười tám lấy chồng căn duyên
    Mười chín lấy thợ đóng thuyền
    Hai mươi lấy lính quan quyền thờ vua
    Hai mốt lấy chàng câu cua
    Hăm hai lên chùa mê mệt thầy tu
    Hai ba lấy thợ đóng dù
    Bước qua hăm bốn lấy phu đi đàng
    Lỡ duyên em bậu ngỡ ngàng
    Trở về em lấy dân làng cho xong.

  • Anh về ngoài nớ, em ở trong ni

    Anh về ngoài nớ, em ở trong ni
    Dặn anh hai chữ gắng ghi vào lòng:
    Hồi thương, nước đục cũng trong
    Hồi ghét, nước chảy giữa dòng cũng dơ
    Thiệt như lời em nói em chờ
    Ba bốn nơi tới ngõ trao thơ, em không cầm.

    Dị bản

    • Anh về dưới nớ em ở lại trên ni
      Dặn em hai chữ nhớ ghi vào lòng
      Thương nhau nước đục cũng trong
      Ghét nhau nước chảy giữa dòng cũng dơ
      Mực sa xuống giấy thành thơ
      Đừng nghi mà tội đừng ngờ mà oan
      Kề tai nghe tiếng anh than
      Trước sao sau vậy giữ đàng thủy chung

Chú thích

  1. Huê
    Hoa (phương ngữ Trung và Nam Bộ). Gọi như thế do kiêng húy tên của bà Hồ Thị Hoa, chính phi của hoàng tử Đảm (về sau là vua Minh Mạng).
  2. Giã ơn
    Cảm tạ ơn.

    Kíp truyền thu lễ, trao lời giã ơn
    (Nhị Độ Mai)

  3. Quân tử
    Hình mẫu con người lí tưởng theo Nho giáo. Quân tử là người ngay thẳng, đứng đắn, công khai theo lẽ phải, trung thực và cẩn trọng.
  4. Má hồng
    Từ chữ hồng nhan (cũng nói là hường nhan ở Nam Bộ), từ dùng trong văn thơ cổ chỉ người con gái đẹp.

    Phận hồng nhan có mong manh
    Nửa chừng xuân thoắt gãy cành thiên hương

    (Truyện Kiều)

  5. Đàng
    Đường, hướng (phương ngữ Trung và Nam Bộ).
  6. Chỉ điều
    Cũng viết là chỉ hồng, chỉ thắm, chỉ đỏ... đều chỉ dây tơ hồng mà Nguyệt lão dùng để xe duyên.
  7. Bậu
    Cũng nói là em bậu, tiếng gọi người tiếp chuyện với mình, khác giới tính, có ý thương mến, thân mật. Cách xưng hô "qua, bậu" thường được dùng trong quan hệ vợ chồng, người yêu (phương ngữ Nam Bộ).
  8. Yếm
    Trang phục mặc trong của phụ nữ ngày xưa. Yếm là một tấm vải hình thoi hoặc hình vuông có sợi dây để quàng vào cổ và buộc vào sau lưng, dùng để che ngực, thường được mặc chung với áo cánh và áo tứ thân. Trong ca dao ta thường gặp hình ảnh yếm đào hay yếm thắm, cùng có nghĩa là yếm màu đỏ.

    Yếm đào bên sen trắng - Tranh Phạm Mai Châu

    Yếm đào bên sen trắng - Tranh Phạm Mai Châu

  9. Chín chữ cù lao
    Tức cửu tự cù lao, chỉ công lao khó nhọc của bố mẹ. (Cù 劬: nhọc nhằn; lao: khó nhọc). Theo Kinh Thi, chín chữ cù lao gồm: Sinh - đẻ, cúc - nâng đỡ, phủ - vuốt ve, súc - cho bú mớm lúc nhỏ, trưởng - nuôi cho lớn, dục - dạy dỗ, cố - trông nom săn sóc, phục - xem tính nết mà dạy bảo cho thành người tốt, và phúc - giữ gìn.
  10. Nguyệt hoa
    Cũng viết là hoa nguyệt (trăng hoa), chỉ chuyện trai gái yêu đương. Từ này có gốc từ nguyệt hạ hoa tiền (dưới trăng, trước hoa, những cảnh nên thơ mà trai gái hẹn hò để tình tự với nhau), nay thường dùng với nghĩa chê bai.

    Cởi tình ra đếm, ra đong
    Đâu lời chân thật, đâu vòng trăng hoa?

    (Tơ xuân - Huy Trụ)

  11. Qua
    Từ người lớn dùng để tự xưng một cách thân mật với người nhỏ, hoặc cách tự xưng có đôi chút tính chất khách quan, nhưng thân tình (Từ điển từ ngữ Nam Bộ - Huỳnh Công Tín).
  12. Son
    Còn trẻ chưa có vợ, chưa có chồng.
  13. Bần
    Còn gọi là cây thủy liễu, loài cây gặp nhiều ở các vùng ngập mặn Nam Bộ. Gỗ bần chủ yếu dùng làm chất đốt, còn trái bần có vị chua, chát với mùi thơm đặc trưng được chế biến thành nhiều món ăn đặc sản của Nam Bộ như mắm bần, lẩu cá nấu bần, mứt bần, kẹo bần...

    Cây và quả bần

    Cây và quả bần

  14. Gie
    (Nhánh cây) chìa ra.
  15. Bá tòng
    Cây bá (trắc) và cây tùng, hai loại cây sống rất lâu năm. Bá tòng vì thế tượng trưng cho tình nghĩa lâu bền. Đồng thời bá tòng cũng chỉ sự tu hành, vì hai loại cây này thường được trồng ở sân chùa.
  16. Thi lễ
    Kinh Thi và kinh Lễ, dùng để chỉ sự nền nếp, gia giáo thời phong kiến.
  17. Mĩ mạo
    Mặt đẹp (từ Hán-Việt).
  18. Đa mang
    Tự vương vấn vào nhiều tình cảm để rồi phải đeo đuổi, vấn vương, dằn vặt không dứt ra được.

    Thôi em chả dám đa mang nữa
    Chẳng buộc vào chân sợi chỉ hồng

    (Xuân tha hương - Nguyễn Bính)

  19. Màng
    Mơ tưởng, ao ước, thèm muốn (từ cổ).
  20. Kỳ ngộ
    Gặp gỡ một cách may mắn kỳ lạ (từ Hán Việt).
  21. Tương phùng
    Gặp nhau (từ Hán Việt).
  22. Tư Mã Tương Như
    Tự là Tràng Khanh, người ở Thành Ðô, đời vua Cảnh Ðế nhà Hán. Ông là một người đa tài, văn hay đàn giỏi, được phong làm quan nhưng sau đó sinh chán nên cáo bệnh từ quan. Khi ông đến nhà Trác Vương Tôn chơi, Trác Vương Tôn yêu cầu ông cho đàn một bài. Biết Trác Vương Tôn có người con gái rất đẹp tên là Văn Quân, còn trẻ mà sớm goá chồng, thích nghe đàn nên Tương Như sinh lòng yêu mến, nhân đó định trêu nàng nên vừa đàn vừa hát khúc Phượng cầu hoàng. Trác Văn Quân đứng nép bên trong nghe tiếng đàn thì lòng cảm thấy bồi hồi, sau bỏ nhà đi theo Tương Như.

    Dập dìu lá gió cành chim,
    Sớm đưa Tống Ngọc, tối tìm Tràng Khanh

    (Truyện Kiều)

  23. Phượng cầu hoàng
    Nghĩa là "chim phượng trống tìm chim phượng mái," một khúc đàn được Tư Mã Tương Như gảy để tỏ tình với Trác Văn Quân. Ðây là một khúc đàn tình tứ lãng mạn:

    Phượng hề phượng hề quy cố hương
    Ngao du tứ hải cầu kỳ hoàng
    Thời vị ngô hề vô sở tương
    Hữu diện thục nữ tại khuê phường
    Thất nhĩ ngân hà, sầu ngã trường
    Hà duyên giao cảnh vi uyên ương
    Tương hiệt ương hề cộng cao tường

    Trong Bích Câu Kỳ ngộ có câu:

    Cầu hoàng tay lựa nên vần
    Tương Như lòng ấy Văn Quân lòng nào

  24. Trác Văn Quân
    Con gái của Trác Vương Tôn, người ở đất Lâm Cùng, đời Tây Hán trong lịch sử Trung Quốc. Nàng là người con gái rất đẹp mà sớm goá chồng, thích nghe đàn. Khi nghe Tương Như vừa đàn vừa hát khúc Phượng cầu hoàng nàng đã đem lòng say mê rồi quyết bỏ nhà đi theo Tương Như.

    Như chuyện Tương Như và Trác thị,
    Đưa nhau về ở đất Lâm Cùng
    Vườn xuân trắng xóa hoa cam rụng
    Tôi với em Nhi kết vợ chồng

    (Hoa với rượu - Nguyễn Bính)

  25. Luống
    Từ dùng để biểu thị mức độ nhiều, diễn ra liên tục, không dứt.

    Vì lòng anh luống âm thầm tha thiết
    Gán đời mình trọn kiếp với Dê Sao

    (Nỗi lòng Tô Vũ - Bùi Giáng)

  26. Duyên nợ
    Theo giáo lí nhân quả của nhà Phật, hai người gặp nhau được là nhờ duyên (nhân duyên), và nên nghĩa vợ chồng để trả nợ từ kiếp trước.
  27. Ba sinh
    Ba kiếp người: kiếp trước, kiếp này và kiếp sau, theo thuyết luân hồi của Phật giáo. Văn học cổ thường dùng chữ "nghĩa ba sinh" hoặc "nguyện ước ba sinh" để nói về sự gắn kết nam nữ.

    Ví chăng duyên nợ ba sinh,
    Làm chi những thói khuynh thành trêu ngươi?

    (Truyện Kiều)

  28. Đồng thau
    Hợp kim của đồng và kẽm. Đồng thau có màu khá giống màu của vàng, nên khi xưa thường được dùng để đúc đồ trang trí hay làm tiền xu. Tuy nhiên, khi hơ lửa đồng thau sẽ bị xỉn màu (do bị oxy hóa) còn vàng thì không.

    Vòng tay làm bằng đồng thau

    Vòng tay làm bằng đồng thau

  29. Đâu, nào (phương ngữ Trung Bộ).
  30. Địch Nghi
    Chú thích này đang để ngỏ. Nếu bạn có thông tin về Địch Nghi, hãy đóng góp cho chúng tôi.
  31. Chi
    Gì (phương ngữ Trung và Nam Bộ).
  32. Thái thể
    Như thể.
  33. Cớ mần răng
    Cớ làm sao (phương ngữ Trung Bộ).
  34. Đặng
    Được, để, nhằm (từ cũ, phương ngữ).
  35. Lái
    Người chuyên nghề buôn chuyến một loại hàng hóa nhất định (lái gỗ, lái trâu...)
  36. Khuê Cầu
    Chú thích này đang để ngỏ. Nếu bạn có thông tin về Khuê Cầu, hãy đóng góp cho chúng tôi.
  37. Đánh quay
    Một trò chơi dân gian rất phổ biến trước đây. Người chơi dùng một sợi dây quấn quanh con quay, sau đó bổ (lăng, giật) thật nhanh để con quay xoay càng nhiều vòng trước khi đổ càng tốt. Con quay có thể làm bằng gỗ, sừng, chũm cau, hạt nhãn, hạt vải, hạt mít, đất sét...

    Ngày xưa vào những ngày lễ Tết thường tổ chức đánh quay, có thể có tranh đua ăn tiền.

    Tùy theo địa phương mà trò này có các tên khác là đánh vụ, đánh gụ hoặc đánh cù. Con quay cũng có các tên tương ứng là bông vụ, con gụ hoặc con cù.

    Đánh quay

    Đánh quay

  38. Áo cổ kiềng
    Một loại áo ngắn tương tự như áo bà ba ở miền Nam, cổ áo ôm sát cổ và được may viềng nẹp như cái kiềng, nên có tên gọi như vậy.
  39. Chiêng
    Nhạc cụ bằng đồng thau, hình tròn, giữa có thể có hoặc không có núm nổi lên. Người ta đánh chiêng bằng dùi gỗ có quấn vải mềm, hoặc bằng tay. Cồng, chiêng là các nhạc cụ đặc trưng cho các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên.

    Đánh chiêng

    Đánh chiêng

  40. Cố
    Giao tài sản (đồ đạc, ruộng đất...) cho người khác để làm tin.
  41. Tài bàn
    Một trò chơi dân gian có xuất xứ từ Trung Quốc. Cách chơi tài bàn tương tự như chơi tổ tôm, tuy nhiên chỉ chơi ba người, khác với tổ tôm chơi năm người.
  42. Can trường
    Cũng đọc là can tràng, nghĩa đen là gan (can) và ruột (trường), nghĩa bóng chỉ nỗi lòng, tâm tình.

    Chút riêng chọn đá thử vàng,
    Biết đâu mà gửi can tràng vào đâu?

    (Truyện Kiều)

  43. Đầu xanh
    Chỉ người tuổi còn trẻ.

    Hay là thuở trước khách hồng nhan?
    Sắc sảo khôn ngoan trời đất ghen.
    Phong trần xui gặp bước lưu lạc,
    Đầu xanh theo một chuyến xuân tàn.
    (Thăm mả cũ bên đường - Tản Đà)

  44. Có bản chép: Nhớ răng.
  45. Cô phòng
    Buồng riêng của người sống cảnh cô đơn (từ Hán Việt). Thường dùng để chỉ cảnh cô đơn của người phụ nữ không chồng hoặc xa chồng.

    Đình thoa trường nhiên tư viễn nhân,
    Độc túc cô phòng lệ như vũ.

    (Ô dạ đề - Lí Bạch)

    Tản Đà dịch:
    Dừng thoi buồn bã nhớ ai,
    Phòng không gối chiếc, giọt dài tuôn mưa.

  46. Lụy
    Nước mắt (phương ngữ Nam Bộ, nói trại từ lệ).
  47. Hồi
    Quay về (từ Hán Việt).
  48. Cố hương
    Quê cũ (từ Hán Việt).

    Sao chưa về cố hương?
    Chiều chiều nghe vượn hú
    Hoa lá rụng buồn buồn
    Tiễn đưa về cửa biển
    Những giọt nước lìa nguồn

    (Hương rừng Cà Mau - Sơn Nam)

  49. Khôn
    Khó mà, không thể.
  50. Trượng
    Đơn vị đo chiều dài cổ của Việt Nam và Trung Hoa. Một trượng dài khoảng 4 mét. Trong văn học cổ, "trượng" thường mang tính ước lệ (nghìn trượng, trăm trượng…).
  51. Ba đào
    Sóng gió, chỉ sự nguy hiểm, bất trắc (từ Hán Việt).
  52. Ni
    Này, nay (phương ngữ miền Trung).
  53. Thơ
    Thư (phương ngữ Trung và Nam Bộ).
  54. Sú ba dăng
    Phiên âm từ tiếng Pháp surveillant (người giám sát).
  55. Ba toong
    Gậy chống, thường cong một đầu để làm tay cầm. Từ này có gốc từ tiếng Pháp bâton. Các viên chức, trí thức dưới thời Pháp thuộc thường mang theo gậy này.
  56. Cô soong
    Con lợn (từ tiếng Pháp couchon), dùng làm tiếng chửi.
  57. Cu li
    Từ tiếng Pháp coolie, chỉ người lao động làm những công việc nặng nhọc.
  58. Mi nơ
    Từ tiếng Pháp miner (thợ mỏ).
  59. Phượng hoàng
    Một loài chim trong thần thoại Trung Quốc và các nước chịu ảnh hưởng. Trước đây, con trống được gọi là Phượng (hay phụng) còn con mái được gọi là Hoàng, nhưng ngày nay thì sự phân biệt đực, cái đã gần như không còn, và phượng hoàng được xem là giống cái, trong khi rồng được xem là giống đực. Phượng hoàng là vua của các loài chim, tượng trưng cho sự thanh cao.

    Một hình vẽ chim phượng hoàng

    Một hình vẽ chim phượng hoàng

  60. Canh
    Đơn vị tính thời gian ban đêm ngày xưa. Người xưa chia một đêm ra thành năm canh (đêm năm canh, ngày sáu khắc). Theo đó, canh một là giờ Tuất (19-21h), canh hai là giờ Hợi (21-23h), canh ba là giờ Tí (23h-1h sáng), canh tư là giờ Sửu (1h-3h), canh năm là giờ Dần (3h-5h). Mỗi lúc sang canh thường có trống điểm, gọi là trống canh.
  61. Tương tư
    Nhớ nhau (từ Hán Việt). Trong văn thơ, tương tư thường được dùng để chỉ nỗi nhớ nhung đơn phương trong tình yêu trai gái.

    Gió mưa là bệnh của Trời
    Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng

    (Tương tư - Nguyễn Bính)

  62. Ngôn đa ngữ thất
    Trích từ sách Cảnh Hạnh Lục (Minh Tâm Bảo Giám): Ngôn đa ngữ thất giai nhân tửu, nghĩa đoạn thân sơ chỉ vị tiền (nói nhiều, nói bậy đều do rượu, dứt tình nghĩa, chia lìa thân thuộc cũng vì tiền).
  63. Nói pháo
    Nói khoác.
  64. Bìm bìm
    Một loại cây leo, hoa hình phễu, trắng hoặc tím xanh, thường mọc hoang hoặc được trồng làm cảnh ở các bờ rào.

    Bìm bìm

    Bìm bìm

  65. Tứ sắc
    Tên một trò chơi bài lá phổ biến ở Trung và Nam Bộ. Bộ bài tứ sắc có 28 lá khác nhau, chia thành 4 màu (đỏ, vàng, xanh, trắng) và 7 cấp bậc: Tướng, Sĩ, Tượng, Xe, Pháo, Mã, Tốt.

    Bài tứ sắc

    Bài tứ sắc

  66. Cát tê
    Tên một trò chơi bài Tây phổ biến Trung và Nam Bộ, tùy theo vùng mà cũng được gọi là các tê, cắt tê hay cạc tê.
  67. Nớ
    Kia, đó (phương ngữ Trung Bộ).
  68. Thủy chung
    Trước và sau. Thường được dùng với nghĩa (tình cảm) trước sau như một, không thay đổi. Từ này trước đây cũng được viết là thỉ chung.