Vốn tôi có máu đau hàm
Cơm ăn thì đỡ, việc làm thì đau
Vốn tôi có máu đau hàm
Dị bản
Người sao có bệnh đau hàm
Lúc ăn thời khỏi, lúc làm thời đauVốn tôi có máu đau hàm,
Hễ ăn thì được, hễ làm thì đau
Sáng lập và chịu và trách nhiệm kĩ thuật cho Ca dao Mẹ. Tác giả của Quẩn quanh trong tổ, Trời hôm ấy không có gì đặc biệt, và Con chim khổng tước còn hót vang ngày mở đất. Hiện đang sống và làm việc tại Munich, Cộng hòa Liên bang Đức.
Vốn tôi có máu đau hàm
Cơm ăn thì đỡ, việc làm thì đau
Người sao có bệnh đau hàm
Lúc ăn thời khỏi, lúc làm thời đau
Vốn tôi có máu đau hàm,
Hễ ăn thì được, hễ làm thì đau
Vốn anh là vốn buôn nồi
Trượt chân một cái, lỗ lời anh đi
Cây đa cũ, con yến rũ, cây đa tàn
Bao nhiêu lá rụng thương nàng bấy nhiêu
Khen cho con nhỏ cả gan
Ghe không bánh lái đâm ngang giữa dòng
Cóc nghiến răng còn động lòng trời
Em nói hết lời anh chẳng chịu nghe
Nước cực phải vớ lấy anh
Rau lang chấm muối, ngon lành nỗi chi!
Đi đâu mà vội mà vàng
Mà bỏ túi bạc mà mang túi chì
Bài này có từ ngữ và/hoặc nội dung nhạy cảm.
Hãy cân nhắc trước khi bấm xem.
Bà cốt đánh trống long tong
Nhảy lên nhảy xuống như ong đốt lồn
Ai mà lấy thúng úp voi
Úp sao cho khỏi lòi vòi lòi đuôi
Con gái lấy phải chồng già
Cầm bằng con lợn cọp tha vào rừng
Ông đứng làm chi đó hỡi ông?
Trơ trơ như đá, vững như đồng.
Đêm ngày gìn giữ cho ai đó?
Non nước đầy vơi có biết không?
(Ông phỗng đá - Nguyễn Khuyến)
- Theo Vũ Cống, chín châu gồm có: Ký (nay thuộc Hà Nam), Duyện (nay thuộc Sơn Đông), Thanh (nay thuộc Sơn Đông, Liêu Dương), Từ (nay thuộc phía nam Sơn Đông), Dương (?), Kinh (nay thuộc Hồ Nam, Hồ Bắc, Quý Châu, Quảng tây), Dự (nay thuộc Hà Nam), Lương (?), Ung (nay thuộc Thiểm Tây, Cam Túc, Thanh Hải).
- Theo Nhĩ nhã, chín châu gồm có: Ký, U, Duyện, Dinh, Từ, Dương, Kinh, Dự, Ung.
- Theo Chu lễ, chín châu gồm có: Ký, U (nay thuộc Trực Lệ, Phụng Thiên), Tình, Duyện, Thanh, Dương, Kinh, Dự, Ung.
Theo học giả An Chi, nạ là một từ Việt gốc Hán bắt nguồn ở một từ ghi bằng chữ 女 mà âm Hán Việt chính thống hiện đại là "nữ" còn âm xưa chính là "nạ," có nghĩa là "đàn bà," "mẹ"... còn dòng là một từ Việt gốc Hán, bắt nguồn ở một từ ghi bằng chữ 庸 mà âm Hán Việt chính thống hiện đại là "dung" còn âm xưa chính là "dòng," có nghĩa gốc là hèn mọn, tầm thường, yếu kém, mệt mỏi... rồi mới có nghĩa phái sinh là không còn nhanh nhẹn, gọn gàng vì đã luống tuổi, nhất là đối với những người đã có nhiều con.