Đồn đây có gái hát tài,
Để ta đối đáp một vài trống canh
Dầu thua dầu được cũng đành,
Bõ công đèn sách, học hành bấy lâu.
Tìm kiếm "đối đặng"
-
-
Hai người ở hai buồng
-
Đôi ta bàn án giao lân
-
Đôi ta như sợi chỉ hường
-
Anh ra chi mỗi tháng mỗi ra
-
Đôi ta như điểu đậu nhành mai
-
Đói hư việc, điếc hư thân
-
Chết đuối đọi đèn
-
Cò cò cạc cạc
-
Thổi lửa phùng mang mau dễ cháy
Thổi lửa phùng mang mau dễ cháy
Đòi nợ hung bạo mới nhạy tiền -
Em nay như tấm lụa đào
-
Đôi ta như muối với me
Đôi ta như muối với me
Thuyền chèo có cặp, đi ghe chung tình -
Đói nghèo sinh hư, no dư sinh tử tế
Đói nghèo sinh hư
No dư sinh tử tế -
Sông sâu cá lội mất tăm
Sông sâu cá lội mất tăm
Chín tháng cũng đợi mười năm cũng chờ
– Sông sâu cá lặn vào bờ
Lấy ai thì lấy đợi chờ mà chi -
Đời ở đợ ít no nhiều đói
Đời ở đợ ít no nhiều đói
Thiếu bạc tiền dư giả đòn roi -
Đôi ta chích huyết ăn thề
-
Đôi ta chẳng mốt thì mai
Đôi ta chẳng mốt thì mai
Chẳng trong tháng chạp thì ngoài tháng giêng. -
Đói muốn chết ba ngày tết cũng no
Đói muốn chết ba ngày tết cũng no
-
Ðồi cao hai cống hai bên
-
Đôi ta vui thú cuộc chơi
Chú thích
-
- Canh
- Đơn vị tính thời gian ban đêm ngày xưa. Người xưa chia một đêm ra thành năm canh (đêm năm canh, ngày sáu khắc). Theo đó, canh một là giờ Tuất (19-21h), canh hai là giờ Hợi (21-23h), canh ba là giờ Tí (23h-1h sáng), canh tư là giờ Sửu (1h-3h), canh năm là giờ Dần (3h-5h). Mỗi lúc sang canh thường có trống điểm, gọi là trống canh.
-
- Giao lân
- Đi lại (giao) với hàng xóm láng giềng (lân).
-
- Chỉ điều
- Cũng viết là chỉ hồng, chỉ thắm, chỉ đỏ... đều chỉ dây tơ hồng mà Nguyệt lão dùng để xe duyên.
-
- Thác
- Chết, mất, qua đời (từ Hán Việt).
-
- Điểu
- Con chim (từ Hán Việt).
-
- Đói hư việc, điếc hư thân
- Đói nghèo, thiếu thốn thì thiếu điều kiện làm tốt công việc. Điếc thì không nghe được người khác khuyên nhủ, nhắc nhở nên không tự sửa mình được.
-
- Chết đuối đọi đèn
- Câu này thường được dùng để nói về sự thất bại, thua lỗ, sa sút, vì một việc rất tầm thường, nhỏ nhặt, cũng như chết đuối trong cái đọi đèn.
-
- Trấy
- Trái (phương ngữ Bắc Trung Bộ).
-
- Đọi
- Cái chén, cái bát (phương ngữ một số vùng ở Bắc Trung Bộ).
-
- Kẻ chợ
- Kinh đô (từ cũ). Khi dùng như danh từ riêng, Kẻ Chợ là tên gọi dân gian của kinh thành Thăng Long xưa.
-
- Vóc
- Một loại vải tơ tằm, bóng mịn, có hoa, dệt bằng sợi đồng màu, dùng làm tán thờ thần hay may y phục cho vua chúa, quan lại.
-
- Nông Cống
- Tên một huyện nằm ở phía Nam tỉnh Thanh Hóa, trước đây còn có tên là Tư Nông.
-
- Quảng Xương
- Địa danh nay là một huyện duyên hải thuộc tỉnh Thanh Hóa.
-
- Núi Nưa
- Cũng gọi là Na Sơn, một ngọn núi nay thuộc địa bàn xã Tân Ninh, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Theo truyền thuyết, đây nơi Bà Triệu cùng nghĩa quân tập trận, rèn khí giới để chống quân Ngô. Đỉnh núi được xem là một trong ba huyệt đạo thiêng của nước ta, bao gồm núi Đá Chông (Ba Vì, Hà Nội), núi Bà Đen, và núi Nưa.
-
- Sông Đơ
- Một con sông chảy qua địa phận Sầm Sơn, huyện Quảng Xương, Thanh Hóa.