Hỡi cô lái ơi, cô đứng bên hàng
Sao cô chẳng đánh chiếc đò ngang sang bên này?
– Thuyền tôi chở mía chở đay
Có không đâu mà chở khách nay qua đường
Tìm kiếm "hỏi han"
-
-
Tam niên học vấn bất khuy viên
-
Bán hàng thì bán sớm mai
-
Dây mơ rễ má
Dây mơ rễ má
-
Thầy đi học đạo làm chi
-
Trót sanh làm phận nữ nhi
-
Ông sư ăn đỗ trộn kê
-
Vai mang bức tượng dặn lòng
Vai mang bức tượng dặn lòng
Thấy ai nhan sắc tránh vòng cho xa -
Xanh đầu con nhà bác, bạc đầu con nhà chú
Xanh đầu con nhà bác
Bạc đầu con nhà chúDị bản
Nhỏ con nhà bác, lớn xác con nhà chú
-
Duyên em đáng giá ngàn vàng
-
Học hành thì ấm vào thân
Học hành thì ấm vào thân
Quyền cao chức trọng dần dần tới sau -
Vợ già, nhà hướng tây
Vợ già, nhà hướng tây
-
Đắt hàng những ả cùng anh
-
Trò ơi gắng học cho hay
-
Rừng Nho biển Thánh khôn dò
-
Làm người mà được khôn ngoan
-
Học là học để mà hành
Học là học để mà hành
Vừa hành vừa học mới thành người khôn -
Có học mà chẳng có hành
Có học mà chẳng có hành
Như cây thiếu lá, như tranh thiếu màu -
Thuộc sách văn hay, mau tay tốt chữ
Thuộc sách văn hay
Mau tay tốt chữ -
Bán hàng nói thách
Bán hàng nói thách
Làm khách trả rẻ
Chú thích
-
- Đay
- Một loại cây thuộc họ bông gòn, chiều cao từ 2 - 5 m, vỏ cây dùng để làm sợi. Trong Chiến tranh Đông Dương, Pháp và Nhật đã bắt dân ta "nhổ lúa trồng đay" nhằm phục vụ chiến tranh (sản xuất quân trang, quân phục), làm sản lượng lương thực bị giảm mạnh, góp phần gây nên nạn đói năm Ất Dậu ở miền Bắc.
-
- Đổng Trọng Thư
- Một nhà nho thời Tây Hán trong lịch sử Trung Hoa. Ông sinh năm 179, mất năm 117 trước Công nguyên. Xuất thân trong một gia đình đại địa chủ, từ nhỏ ông đã khổ công học tập, nổi tiếng là "học ba năm không nhìn ra vườn" (Tam niên học vấn bất khuy viên).
-
- Lưu liên dạ hành
- Hay đi chơi đêm.
-
- Kinh Thi
- Một trong Ngũ Kinh, gồm 311 bài thơ vô danh được sáng tác trong khoảng thời gian 500 năm, từ đầu thời Tây Chu đến giữa thời Xuân Thu, chia làm ba bộ phận lớn là Phong, Nhã và Tụng. Nguồn gốc các bài thơ trong Kinh Thi khá phức tạp, gồm cả ca dao, dân ca và nhã nhạc triều đình, với các tác giả thuộc mọi tầng lớp trong xã hội đương thời.
-
- Nữ nhi
- Con gái nói chung.
-
- Thị phi
- Phải và không phải. Chỉ sự đồn đại, chê bai.
Kẻ yêu nên ít lời cao hạ,
Người ghét càng nhiều tiếng thị phi.
(Than thân - Nguyễn Hữu Chỉnh)
-
- Kê
- Cây lương thực cùng họ với lúa, quả rất nhỏ, thường gọi là hạt, màu vàng, tập trung thành một bông dài.
-
- Quýt hôi
- Một giống quýt thường trồng ở miền núi, cây to, khỏe, quả có vỏ màu vàng tái, bóng, bóc ra có mùi hắc, ruột chua.
-
- Xoàn
- Kim cương (phương ngữ Nam Bộ).
-
- Thong manh
- (Mắt) bị mù hoặc nhìn không rõ, nhưng trông bề ngoài vẫn có vẻ như bình thường.
-
- Quáng gà
- (Mắt) nhìn không rõ vào ban đêm hay trong điều kiện thiếu ánh sáng, như lúc chiều tối.
-
- Lạc Hồng
- Con Lạc cháu Hồng (Con của loài chim Lạc, cháu của dòng giống Hồng Bàng). Chim Lạc là một loài chim trong truyền thuyết, được xem là biểu tượng của Âu Lạc, nhà nước thứ hai trong lịch sử nước ta (sau Văn Lang của các vua Hùng). Hồng Bàng là tên gọi chung cho giai đoạn thượng cổ nước ta, chủ yếu dựa trên các truyền thuyết, truyện kể và một số ít bằng chứng khảo cổ học.
Nhân dân ta tự nhận là con Lạc cháu Hồng. Từ "Lạc Hồng" đôi khi được đảo thành Hồng Lạc, tương tự như đối với "con Hồng cháu Lạc."
-
- Rừng Nho biển Thánh
- Sách vở Nho giáo nói chung.
-
- Nghệ
- Nghề (từ Hán Việt).


