Gái phải lòng trai đem của về nhà
Trai phải lòng gái dỡ cột nhà đem đi
Gái phải lòng trai đem của về nhà
Dị bản
Gái phải lòng trai đem của về nhà
Trai phải lòng gái lăn cả cột nhà mang điGái khôn bòn của về nhà
Trai si dở cả cột nhà đem đi
Gái phải lòng trai đem của về nhà
Trai phải lòng gái dỡ cột nhà đem đi
Gái phải lòng trai đem của về nhà
Trai phải lòng gái lăn cả cột nhà mang đi
Gái khôn bòn của về nhà
Trai si dở cả cột nhà đem đi
Hoài hơi mà đấm bị bông
Đấm được bên nọ, nó phồng bên kia
Khen ai khéo đúc chuông chì
Dáng thì có dáng, đánh thì không kêu
Bài này có từ ngữ và/hoặc nội dung nhạy cảm.
Hãy cân nhắc trước khi bấm xem.
Gái đâu có gái lạ đời
Chỉ còn thiếu một ông trời không chim
Long thần, thổ địa cũng tìm
Thổ công, vua bếp cũng chim cả rồi
Gà già khéo ướp lại tơ
Nạ dòng trang điểm, gái tơ mất chồng
Văn hay chẳng luận đọc dài
Vừa mở đầu bài đã biết văn hay
Tằm sao tằm chẳng ăn dâu
Tằm đòi ăn lúa, ăn rau, ăn cà?
Con tằm nó ăn lá dâu
Có khi ăn mất cả trâu lẫn bò
Một con tằm cũng phải hái dâu
Một con trâu cũng phải đứng đồng
Năng mưa năng tốt lúa đường
Năng đi năng lại xem thường xem khinh
Thế gian còn mặt mũi nào
Đã nhổ lại liếm, làm sao cho đành!
Nói thì đâm năm chém mười
Đến khi tối trời chẳng dám ra sân
Có con mà gả chồng gần
Có bát canh cần nó cũng đem cho
Có con mà gả chồng xa
Một là mất giỗ, hai là mất con
Núi kia ai đắp mà cao
Sông kia ai bới, ai đào mà sâu?
Sông Tiền sông Hậu cùng nguồn
Thuyền bè tấp nập bán buôn dập dìu
Phận hồng nhan có mong manh
Nửa chừng xuân thoắt gãy cành thiên hương
(Truyện Kiều)
Theo học giả An Chi, nạ là một từ Việt gốc Hán bắt nguồn ở một từ ghi bằng chữ 女 mà âm Hán Việt chính thống hiện đại là "nữ" còn âm xưa chính là "nạ," có nghĩa là "đàn bà," "mẹ"... còn dòng là một từ Việt gốc Hán, bắt nguồn ở một từ ghi bằng chữ 庸 mà âm Hán Việt chính thống hiện đại là "dung" còn âm xưa chính là "dòng," có nghĩa gốc là hèn mọn, tầm thường, yếu kém, mệt mỏi... rồi mới có nghĩa phái sinh là không còn nhanh nhẹn, gọn gàng vì đã luống tuổi, nhất là đối với những người đã có nhiều con.
Năm 1800, ông và Lễ bộ tham tri Ngô Tùng Châu trấn giữ thành Bình Định. Thành bị hai đại tướng Tây Sơn là Trần Quang Diệu và Võ Văn Dũng bao vây suốt 18 tháng liền. Đến ngày 7/7/1801, nhắm không cầm cự được nữa, ông cho người trao Trần Quang Diệu bức thư xin tha chết cho quân sĩ trong thành, rồi sai thuộc hạ lấy rơm củi chất dưới lầu Bát Giác, đổ thuốc súng vào, châm ngòi tự vẫn.
Đương thời, ông được xếp cùng với Đỗ Thành Nhơn và Châu Văn Tiếp là "Gia Định tam hùng" (ba người hùng đất Gia Định). Ông giữ chức Hậu quân nên nhân dân yêu mến gọi ông là quan Hậu, hoặc ông Hậu.
Xem vở cải lương Cờ nghĩa giồng Sơn Quy nói về cuộc khởi nghĩa Trương Định.
Sao chưa về cố hương?
Chiều chiều nghe vượn hú
Hoa lá rụng buồn buồn
Tiễn đưa về cửa biển
Những giọt nước lìa nguồn
(Hương rừng Cà Mau - Sơn Nam)