Mặc đời danh lợi đua chen
Thuyền trôi mặt nước, ngồi xem trăng ngà
Tìm kiếm "trăng máu"
-
-
Trăng đà lu lú đỉnh đồi
Trăng đà lu lú đỉnh đồi
Anh không lo liệu còn ngồi mãi chăng? -
Trăng lên có chiếc sao chầu
-
Trăng lên đến đó, bạn tề
-
Trăng lên đến đó rồi tề
-
Trăng lên khỏi núi mặc trăng
Trăng lên khỏi núi mặc trăng
Tình ta với bạn khăng khăng một niềm -
Trăng lên khỏi núi trăng tròn
-
Trăng lên khỏi rú mắc mây
-
Trăng lên khỏi núi trăng nghiêng
Trăng lên khỏi núi trăng nghiêng
Ta muốn vui chung với bạn, sợ láng giềng mỉa mai -
Trăng lên khuất núi trăng mờ
Trăng lên khuất núi trăng mờ
Biết anh bao tuổi mà chờ đợi anhDị bản
Trăng lên khỏi núi, khuất bụi chuối con trăng mờ
Anh biết em bao nhiêu tuổi mà đợi chờ cho uổng côngTrăng lên khỏi núi, khuất bụi chuối con trăng mờ
Phải duyên thì lấy, em đừng chờ uổng công
-
Trăng thanh vằng vặc giữa trời
Trăng thanh vằng vặc giữa trời
Nhớ tình nhớ nghĩa nhớ nơi hẹn hòDị bản
Trăng thanh vằng vặc giữa trời
Nhớ tình nhớ nghĩa nhớ nơi bạn nằm
-
Trăng vàng chênh chếch đầu non
-
Trên Tràng Thi dưới lại Tràng Thi
-
Trắng da là đĩ anh ôi
Trắng da là đĩ anh ôi
Đen da thật vợ ở đời với anh -
Ra đi quần soóc, sơ-mi
-
Anh gạt em, em chạy sút đầu
-
E khi thắm lạt vàng phai
E khi thắm lạt vàng phai
Sắc tàn nhị mất, anh lại bỏ hoài không thương
– Anh thề có bóng trăng đây
Núi kia có lở tấm lòng này vẫn nguyên -
Trông trăng, trăng lặn về tây
Trông trăng, trăng lặn về tây
Trông anh, anh lại về ngay ngõ người
Thầy mẹ anh bán mấy mươi
Mà anh đi ở cho người quanh năm? -
Trăng trăng, nước nước, trời trời
Dị bản
Trăng trăng, nước nước, trời trời,
Người thương chẳng thấy, thấy đời cô đơn
-
Trăng tròn lên đỉnh ông Bia
Chú thích
-
- Trầu
- Còn gọi là trầu không, một loại dây leo dùng làm gia vị hoặc làm thuốc. Lá trầu được nhai cùng với vôi tôi hay vôi sống và quả cau, tạo nên một miếng trầu. Ở nước ta có hai loại trầu chính là trầu mỡ và trầu quế. Lá trầu mỡ to bản, dễ trồng. Trầu quế có vị cay, lá nhỏ được ưa chuộng hơn trong tục ăn trầu.
Người xưa có phong tục mời ăn trầu khi gặp nhau. Trầu cau tượng trưng cho tình yêu đôi lứa, vợ chồng, nên là một lễ vật không thể thiếu trong các dịp cưới hỏi.
Nghe nghệ sĩ nhân dân Thu Hiền hát bài Hoa cau vườn trầu.
-
- Tề
- Kìa (phương ngữ miền Trung).
-
- Răng
- Sao (phương ngữ Trung Bộ).
-
- Xuân xanh
- Tuổi trẻ.
Phong lưu rất mực hồng quần,
Xuân xanh xấp xỉ tới tuần cập kê.
(Truyện Kiều)
-
- Giòn
- Xinh đẹp, dễ coi (từ cổ).
-
- Rứa
- Thế, vậy (phương ngữ Trung Bộ).
-
- Rú
- Núi, rừng nói chung (phương ngữ Trung Bộ).
-
- Sao Kim
- Hành tinh thứ hai trong hệ Mặt Trời, khi xuất hiện lúc chiều tối thì được gọi là sao Hôm, khi xuất hiện lúc sáng sớm thì được gọi là sao Mai. Người xưa lầm tưởng sao Hôm và sao Mai là hai ngôi sao riêng biệt. Trong thi ca, sao Hôm là hoán dụ của hoàng hôn, còn sao Mai là hoán dụ của bình minh.
-
- Tràng Thi
- Tên một phố thuộc huyện Thọ Xương cũ, nay thuộc hai phường Hàng Trống và Hàng Bông, quận Hoàn Kiếm. Phố dài 860m từ phố Bà Triệu đến phố Cửa Nam, cắt ngang qua các phố Quang Trung, ngă tư Phủ Doãn - Triệu Quốc Đạt và phố Quán Sứ. Phố có tên gọi như vậy vì từ đời nhà Lê, trường thi Hương đặt tại đây. Thời Pháp thuộc, người Pháp dịch tên phố thành Rue du Camp des Lettres, sau đổi là phố Borgnis-Desbordes (tên một tướng Pháp). Sau Cách mạng, phố được đổi tên thành Tràng Thi như cũ.
-
- Nhân ngãi
- Người thương, người tình (từ cổ). Cũng nói nhân ngãi, ngỡi nhân.
-
- Hàng Đào
- Một con phố của Hà Nội xưa, nay thuộc địa bàn quận Hoàn Kiếm, Hà Nội, phía nam là quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục sát bờ hồ Hoàn Kiếm, đầu phía bắc giáp phố Hàng Ngang. Ở đây còn di tích của trường Đông Kinh Nghĩa Thục (nhà số 10). Tên phố có nguồn gốc từ mặt hàng vải nhuộm đỏ được bán nhiều ở phố.
-
- Sơ mi
- Áo may kiểu Âu phục bằng vải mỏng nhẹ, có thể tay dài hoặc ngắn. Từ này có gốc tiếng Pháp chemise.
-
- Khăn bìa đôi
- Loại khăn lớn hình chữ nhật, có bốn cạnh viền bằng cách cặp một nẹp vải khác màu gập lại và may cho khăn khỏi sút sổ.
-
- Núi Đá Bia
- Tên chữ là Thạch Bi Sơn, dân gian cũng gọi là núi Ông hoặc Đá Chồng, ngọn núi cao nhất trong khối núi Đại Lãnh thuộc dãy Đèo Cả, một thời là cột mốc biên giới của Đại Việt xưa. Đá Bia nằm ở xã Hòa Xuân Nam, huyện Đông Hòa, phía Nam tỉnh Phú Yên, nổi tiếng vì tảng đá Bia khổng lồ cao khoảng 80 m trên đỉnh núi, đứng cách xa vẫn nhìn thấy. Có tên như vậy vì tương truyền vào năm 1471, khi thân chinh cầm quân tấn công Chăm Pa, vua Lê Thánh Tông dừng tại chân núi, cho quân lính trèo lên khắc tên, ghi rõ cương vực Đại Việt tại nơi này.
-
- Dìa
- Về (cách phát âm của một số vùng Trung và Nam Bộ).



