Quân tứ ư hự thì đau
Dị bản
Quân tử ứ hự đã đau
Tiểu nhân dùi đục đập đầu như không
Quân tử ứ hự đã đau
Tiểu nhân dùi đục đập đầu như không
Cây cao gió vật gió vờ
Chẳng bằng cây thấp gió đưa dịu dàng
Bình bồng ở giữa giang tân
Bên tình bên nghĩa biết thân bên nào?
– Nhứt lê, nhì lựu, tam đào
Bên tình, bên nghĩa, bên nào cũng đồng thân
Em về lập quán bán nem
Có ai hỏi đến của em, em nhờ
Giao con cho cái quạ già
Biết rằng cái quạ thương là chẳng thương?
Gửi con cho lão quạ già
Biết là lão quạ thương là mấy thương?
Đem con mà gởi quạ già
Biết đâu quạ để con ta được toàn?
Chiều chiều ra đứng sau hè
Nhìn cây khế ngọt mà nghe đắng lòng
Muối chua, chanh mặn, đường cay
Lát gừng thì đắng từ ngày xa anh
Muối chua, chanh mặn, đường cay
Nhánh gừng thì đắng từ ngày xa nhau
Đổi đời khăn áo lòng thòng
Đổi răng trắng lại, đổi lòng đen đi
Địa danh "Huế" được cho là bắt nguồn từ chữ "Hóa" trong Thuận Hóa, tên cũ của vùng đất bao gồm Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế.
Dưới trăng quyên đã gọi hè
Đầu tường lửa lựu lập lòe đâm bông
(Truyện Kiều)
Trong ca dao tục ngữ, hình ảnh đào, lựu, mận, mơ... thường được dùng với tính ước lệ để chỉ đôi lứa yêu nhau.
Nhân ngôn kí gửi dữ lão nha
Bất thức lão nha liên ái phầu
Câu thơ có hàm ý nhắc nhở Thái thượng hoàng Trần Nghệ Tông đã quá tin tưởng mà giao con là Trần Thuận Tông cho quyền thần Hồ Quý Ly phụ chính (Quý Ly có người cô là mẹ Nghệ Tông nên là vai bác của Thuận Tông). Về sau quả nhiên nhà Trần bị mất về tay Hồ Quý Ly.