Tìm kiếm "ma liên"
-
-
Bài này có từ ngữ và/hoặc nội dung nhạy cảm.
Hãy cân nhắc trước khi bấm xem.Má ơi, con không muốn lấy anh thổi kèn
Má ơi, con không muốn lấy anh thợ kèn
Phùng mang trợn mắt chảy ghèn hai bên
Má ơi, con không muốn lấy anh thợ cưa
Trên tàn dưới mạt, dái đưa lòng thòng
Má ơi, con muốn lấy anh thợ bào
Trườn lên tuột xuống nhát nào cũng êm -
Má ơi, sắm sửa nồi niêu
-
Mạ non bắt nhẻ cấy biền
Dị bản
Mạ non đem cấy đất biền
Làm trai muốn vợ chạy tiền không ra
-
Hồng nhan như bát nước chè
-
Chờ duyên nên tuổi em cao
-
Má miếng bầu coi lâu muốn chửi
Dị bản
Má miếng bầu coi lâu càng thắm
Mặt chữ điền xấu lắm ai ơi
-
Má hồng, trán bóng có duyên
Má hồng, trán bóng có duyên
Lương tâm dẫu tốt, đừng hòng tuổi cao -
Má hồng bồng kiếm ra oai
Má hồng bồng kiếm ra oai
Dậm chân rung núi, nghiêng vai đổ trời -
Khốn nạn thay nhạn ở với ruồi
-
Anh đi ngang qua cửa sao không vào
Anh đi ngang qua cửa sao không vào
Hay là anh có chỗ má đào, phụ em? -
Biết ai đặng gửi má đào
-
Má hồng, môi đỏ, tóc tơ
Má hồng, môi đỏ, tóc tơ
Tình sâu nghĩa đậm, khiến ngơ ngẩn lòng -
Má cao mà lại đỏ hồng
Má cao mà lại đỏ hồng
Là tướng sát chồng, mà lại ít con -
Cảm thương cho kẻ má hồng
Cảm thương cho kẻ má hồng
Tối ngày chưng diện mà lòng tối đen -
Đồn đây có gái má hồng
Đồn đây có gái má hồng
Cho nên vượt biển vượt sông sá gì -
Má đừng khắc bạc con dâu
-
Má ơi con muốn lấy ông thầy chùa
Má ơi con muốn lấy ông thầy chùa
Chuối, xôi, bông, bánh, bốn mùa má ấm thân -
Mã Châu con gái mĩ miều
-
Lúa chiêm mà thả kín bèo
Dị bản
Mạ chiêm mà đổ kín bèo,
Như con nhà nghèo trời để của cho
Chú thích
-
- Vuông
- Đơn vị dân gian dùng để đo vải, bằng bề ngang (hoặc khổ) của tấm vải (vuông vải, vuông nhiễu).
-
- Nhiễu
- Hàng dệt bằng tơ, sợi ngang xe rất săn, làm cho mặt nổi cát.
-
- Chim khách
- Còn gọi là yến nhung hoặc chim chèo bẻo, có bộ lông màu đen than, đuôi dài tẽ làm đôi. Tiếng kêu của chim nghe như "khách... khách" nên nó có tên như vậy. Theo dân gian, chim kêu tức là điềm báo có khách đến chơi nhà.
-
- Bắt nhẻ
- (Đi cấy) dùng vài ba cọng mạ để cấy.
-
- Đất biền
- Vùng đất ven sông, ngập nước khi thủy triều lên.
-
- Má hồng
- Từ chữ hồng nhan (cũng nói là hường nhan ở Nam Bộ), từ dùng trong văn thơ cổ chỉ người con gái đẹp.
Phận hồng nhan có mong manh
Nửa chừng xuân thoắt gãy cành thiên hương
(Truyện Kiều)
-
- Má đào
- Má hồng, chỉ người phụ nữ đẹp.
Bấy lâu nghe tiếng má đào,
Mắt xanh chẳng để ai vào có không?
(Truyện Kiều)
-
- Tiền
- Năm 1439, vua Lê Thánh Tông quy định: 1 quan = 10 tiền = 600 đồng, gọi là tiền tốt hoặc tiền quý (quy định này ổn định cho đến năm 1945). Khoảng thế kỉ 18, trong dân gian xuất hiện cách tính tiền gián, mỗi quan tiền gián chỉ gồm 360 đồng.
-
- Ma trơi
- Đám sáng thường thấy lập lòe ban đêm trên bãi tha ma, do hợp chất phốt-pho từ xương người chết thoát ra và bốc cháy khi gặp không khí, theo mê tín cho là có ma hiện.
Bàn độc chen chân chó nhảy ngồi
Mồ chiều xanh lạnh lửa ma trơi
Dậu chưa đổ đã bìm chen lấn
Huyệt chửa đào xong đã quỷ cười
(Chờ đợi nghìn năm - Mai Thảo)
-
- Đặng
- Được, để, nhằm (từ cũ, phương ngữ).
-
- Khắc bạc
- Khe khắt và ác nghiệt.
-
- Mã Châu
- Một làng cổ (hình thành từ thế kỷ 15) bên cạnh kinh đô Trà Kiệu của vương quốc Chăm-pa cổ, nay thuộc thị trấn Nam Phước, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam. Xưa kia làng có nghề trồng dâu, nuôi tằm, dệt lụa cho giới quý tộc, quan lại trong các vương triều. Khi xứ Đàng Trong mở cửa giao thương với thế giới bên ngoài qua cảng thị Hội An thì tơ lụa Mã Châu là mặt hàng được xuất khẩu nhiều nhất.
-
- Chiêm
- (Lúa hay hoa màu) gieo cấy ở miền Bắc vào đầu mùa lạnh, khô (tháng mười, tháng mười một) và thu hoạch vào đầu mùa nóng, mưa nhiều (tháng năm, tháng sáu), phân biệt với mùa. Đây cũng là cách gọi tắt của "lúa chiêm." Theo sách Vân Đài Loại Ngữ của Lê Quý Đôn, người Việt trước đây đã học cách trồng một số giống lúa gieo vào mùa đông, thu hoạch vào mùa hạ từ người Chiêm Thành, nên gọi là lúa chiêm hay lúa chăm.

