Thảm thương cho ghe lườn mui ống
Phải chi gần đậu vốn buôn chung
Thảm thương cho ghe lườn mui ống
Dị bản
Thảm thiết tiếc thương ghe lườn mui ống
Phải chi ở gần đậu vốn buôn chung
Thảm thiết tiếc thương ghe lườn mui ống
Phải chi ở gần đậu vốn buôn chung
Không tiền mặt ủ mày chau
Có tiền cái mặt như rằm trung thu
Kiếm sống qua ngày
Kiếm tiền độ nhật
Đứng xa mà ngắm gót chân
Nhích lại cho gần mà nắm bàn tay
Đứng xa mà ngắm gót chân
Nhích lại cho gần mà cắn móng tay
Thấy anh hay chữ, em đây hỏi thử đôi lời
Đường từ Châu Đốc, Hà Tiên
Kinh nào chạy thẳng nối liền hai nơi?
Đất nào lắm dốc nhiều đồi?
Đèn nào cao nhất tiếng đời đều nghe?
Sông nào tấp nập thuyền bè?
Hồ nào với biển cập kè bên nhau?
Trai nào nổi tiếng anh hào?
Anh mà đáp đặng, má đào em trao
– Nghe em hỏi tức, anh đây nói phứt cho rồi
Đường từ Châu Đốc, Hà Tiên
Có kênh Vĩnh Tế nối liền hai nơi
Đất Nam Vang lắm dốc nhiều đồi
Đèn cao Châu Đốc mọi người đều nghe
Sông Cửu Long tấp nập thuyền bè
Biển Hồ hai chữ cập kè bên nhau
Trai Việt Nam nổi tiếng anh hào
Anh đà đáp đặng, vậy má đào em trao đây!
Rồng chầu biển Bắc, phụng múa Hà Tiên
Anh thương em gặp mặt thương liền
Tỉ như Lữ Bố, Điêu Thuyền thuở xưa
Rồng chầu biển Bắc, phụng múa Hà Tiên
Thương làm sao gặp mặt thương liền
Giả như Lữ Bố, Điêu Thuyền thuở xưa
Chổi tiên quét sạch chùa vàng
Sửa sang Phật lại để nàng đi tu
Uổng tiền mua giống mía sâu
Để dành đi cưới con dâu mà nhờ
Kênh Vĩnh Tế, biển Hà Tiên
Ghe thuyền xuôi ngược bán buôn dập dìu
Có tiền có gạo, chàng ơi
Không tiền không gạo, chàng ngồi em đi
Sụt sùi kẻ tới người lui
Em bâng khuâng nhớ, chị bùi ngùi thương
Chị về em lại trông chừng
Trông bể bể rộng, trông rừng rừng xanh
Theo học giả Vương Hồng Sển, địa danh Châu Đốc có nguồn gốc từ tiếng Khmer moat-chrut, nghĩa là "miệng heo."
Đường đường một đấng anh hào,
Côn quyền hơn sức, lược thao gồm tài.
(Truyện Kiều)
Sao bằng lộc trọng quyền cao
Công danh ai dứt lối nào cho qua
(Truyện Kiều)
Long Điền Chợ Thủ có hai nghề truyền thống là dệt vải và đóng đồ mộc, chạm khắc gỗ.