Tứ bề thành lũy rất cao
Giặc đánh ào ào vẫn ngủ trong cung
Tìm kiếm "Cầu Đông"
-
-
Chị ơi chị ơi xích lại cho gần
-
Chân đạp miền thanh địa
-
Thân dài lưỡi cứng là ta
-
Nhà có bà ăn cơm trắng
-
Nhà có bà ăn cơm trước
-
Nhà có bà hay la liếm
-
Bằng con bò, nằm co giữa ruộng
-
Còn nhỏ em mặc áo xanh
-
Có chân mà chẳng biết đi
-
Mặt như cái thớt, mình như cái mai
-
Bằng trái cau, lau chau đi trước
-
Không ăn mà mổ cuống cuồng
-
Ba bà đi chợ Cầu Nôm
-
Cây cao nghìn trượng
-
Cây bằng cái kim
-
Cái mình nho nhỏ
-
Một đàn cò trắng phau phau
-
Tới đây ăn gửi, nằm nhờ
-
Một cột mà chốt tứ bề
Chú thích
-
- Thanh địa
- Vùng đất trong sạch. Có bản chép: thánh địa (vùng đất thánh, đất thiêng).
-
- Mũ bình thiên
- Kiểu mũ của vua chúa đội thời phong kiến.
-
- Áo mã tiên
- Loại áo do nữ công nhã nhạc triều Nguyễn mặc khi chơi nhạc.
-
- Hữu thủ vô túc
- Có tay không chân.
-
- Bình vôi
- Ngày xưa nhân dân ta thường hay ăn trầu với cau và vôi. Bình vôi là dụng cụ bằng gốm hay kim loại để đựng vôi ăn trầu, đôi khi được chế tác rất tinh xảo, và tùy theo hình dạng mà cũng gọi là ống vôi.
-
- Đũa bếp
- Đũa to và dài, dùng khi nấu nướng (lật các món chiên xào, xới cơm, nhấc nồi...). Miền Bắc gọi là đũa cả.
-
- Đàn nguyệt
- Từ Hán Việt là nguyệt cầm, Nam Bộ gọi là đàn kìm. Loại đàn này có hộp đàn hình tròn như mặt trăng nên mới có tên là "đàn nguyệt." Theo sách xưa thì đàn nguyên thủy có 4 dây, sau rút lại còn 2 dây. Sách của Phạm Đình Hổ ghi rằng đàn nguyệt xuất hiện ở Việt Nam vào thế kỷ 18. Xem thêm nhạc sĩ Huỳnh Khải giải thích về đàn kìm tại đây.
-
- Lau chau
- Hối hả, vội vã.
-
- Chày giã gạo
- Ngày xưa người ta giã gạo trong cối, dùng chày. Chày là một cây gỗ cứng, nặng, đầu nhẵn, phần giữa thuôn nhỏ (gọi là cổ chày).
-
- Trượng
- Đơn vị đo chiều dài cổ của Việt Nam và Trung Hoa. Một trượng dài khoảng 4 mét. Trong văn học cổ, "trượng" thường mang tính ước lệ (nghìn trượng, trăm trượng…).
-
- Ngàn
- Rừng rậm.
-
- Rờ
- Sờ.





