Quần anh thêu cù lần
Áo anh thêu phụng lộn
Hàm răng anh lộn xộn
Con mắt quá to
Cái miệng hỏa lò
Nghe giọng hò phát ghét
Tìm kiếm "củ hành"
-
-
Khoai lang tốt củ, xấu dây
Khoai lang tốt củ, xấu dây
Bề ngoài anh xấu, nhưng lòng đầy tình thương -
Ngựa ham đường cũ, ngựa lại sa hầm
Ngựa ham đường cũ, ngựa lại sa hầm
Anh quen thói cũ, anh nhầm phải em -
Mắm ốc Cù Mông
-
Đi đâu, nón cụ quai tơ
-
Còn duyên nón cụ quai tơ
Còn duyên nón cụ quai tơ
Hết duyên nón lá quai dừa cũng xong -
Yêu nhau nấu cháo củ tre
-
Trời sao trời khéo để dành
-
Mãn mùa nón cũ rã vành
Dị bản
Em cấy mãn mùa, khăn em cũ, nón rã vành,
Anh có tiền dư cho em mượn đỡ, mua khăn nón lành đội chơi
-
Khoai lang củ sượng, củ trân
-
Quê em hai dải cù lao
-
Ai cho mới chuộng cũ dông
-
Tiếc công bỏ cú nuôi cu
-
Bài này có từ ngữ và/hoặc nội dung nhạy cảm.
Hãy cân nhắc trước khi bấm xem.Sướng con cu, mù con mắt
Dị bản
-
Cha mẹ cú đẻ con tiên, cha mẹ hiền sinh con dữ
Cha mẹ cú đẻ con tiên,
Cha mẹ hiền sinh con dữ -
Không bằng lòng thì cứ nói ra
Không bằng lòng thì cứ nói ra
Đừng háy, đừng nguýt mà nhà nó bay -
Tai nghe bạn cũ có đôi
Tai nghe bạn cũ có đôi
Ghé vô thăm chút, không ngồi chi lâu
Tưởng là bỏ một miếng trầu
Dứt đi thì tội, ngồi lâu thì phiền -
Ai ơi cứ ở cho lành
Ai ơi cứ ở cho lành
Tu nhân tích đức để dành về sau -
Tò he cụ bán mấy đồng
Tò he cụ bán mấy đồng
Tôi mua một chiếc cho chồng tôi chơi
Chồng tôi đánh vỡ đánh rơi
Tôi mua cái mới tôi chơi một mìnhDị bản
Tò he cụ bán mấy đồng
Con mua một chiếc cho chồng con chơi
Chồng con đánh hỏng thì thôi
Con mua chiếc khác con chơi một mình
-
Vợ không cheo như cù nèo không móc
Chú thích
-
- Hỏa lò
- Cái lò lửa (từ Hán Việt).
-
- Cù Mông
- Một con đèo rất hiểm trở nằm giáp ranh giữa hai tỉnh Phú Yên và Bình Định. Đường đèo rất dốc, có nhiều cua gấp, hai bên là núi cao. Trước đây khi chưa có tuyến đường Quy Nhơn-Sông Cầu thì đèo là con đường chính để qua lại giữa hai tỉnh.
-
- Niêu
- Nồi nhỏ bằng đất nung hoặc đồng, có nắp đậy, dùng để nấu nướng hoặc sắc thuốc. Niêu sắc thuốc thì có thêm cái vòi để rót thuốc.
-
- Nón cụ
- Loại nón quai thao dùng cho cô dâu đội ngày trước.
-
- Thạch tín
- Cũng gọi là nhân ngôn (vì chữ tín 信 gồm chữ nhân 亻và chữ ngôn 言 ghép lại), là tên gọi chung của một số hỗn hợp chứa chất Asen (Arsenic) và hợp chất của Asen với Oxy, rất độc, nhưng đồng thời là một vị thuốc trong đông y.
-
- Ốc xà cừ
- Một loại ốc biển lớn, vỏ dày có nhiều hoa văn đẹp mắt. Vỏ ốc xà cừ thường được dùng để khảm vào các đồ vật bằng gỗ, có tác dụng trang trí, gọi là cẩn xà cừ.
-
- Mãn
- Trọn, đầy đủ, hết (từ Hán Việt).
-
- Người nghĩa
- Người thương, người tình.
-
- Trân
- (Khoai) luộc chưa chín. Đồng nghĩa với sượng.
-
- Mần
- Làm (phương ngữ Trung và Nam Bộ). Như mần ăn, mần việc, đi mần...
-
- Cù lao
- Khoảng đất nổi lên ở giữa biển hoặc sông.
-
- Cau
- Loại cây nhiều đốt, thân nhỏ và cao vút, có quả dùng để ăn với trầu.
-
- Trầu
- Còn gọi là trầu không, một loại dây leo dùng làm gia vị hoặc làm thuốc. Lá trầu được nhai cùng với vôi tôi hay vôi sống và quả cau, tạo nên một miếng trầu. Ở nước ta có hai loại trầu chính là trầu mỡ và trầu quế. Lá trầu mỡ to bản, dễ trồng. Trầu quế có vị cay, lá nhỏ được ưa chuộng hơn trong tục ăn trầu.
Người xưa có phong tục mời ăn trầu khi gặp nhau. Trầu cau tượng trưng cho tình yêu đôi lứa, vợ chồng, nên là một lễ vật không thể thiếu trong các dịp cưới hỏi.
Nghe nghệ sĩ nhân dân Thu Hiền hát bài Hoa cau vườn trầu.
-
- Tằm
- Còn gọi là tằm tơ, ấu trùng của loài bướm tằm. Tằm ăn lá dâu tằm và nhả tơ thành kén. Tằm đã sẵn sàng nhả tơ được gọi là tằm chín, có màu vàng óng hoặc đỏ nâu bóng, trong suốt. Tơ tằm dùng để dệt lụa và có giá trị kinh tế cao.
-
- Dông
- Bỏ chạy mất (phương ngữ Trung và Nam Bộ).
-
- Phỉnh phờ
- Nói dối hoặc dùng lời lẽ ngọt ngào đường mật để dụ dỗ người khác.
-
- Khi hát bài chòi, bài này được dùng để báo con Chín Cu.
-
- Su
- Sâu (phương ngữ Nghệ Tĩnh).
-
- Tò he
- Một loại đồ chơi dân gian phổ biến ở vùng đồng bằng Bắc Bộ. Tò he được làm bằng bột, ban đầu dùng để cúng lễ, thường có hình thù các con vật như công, gà, trâu, bò, lợn, cá (nên cũng gọi là con giống hay con bánh)... hoặc nải chuối, quả cau, chân giò, đĩa xôi... Sau này, tò he được gắn vào một chiếc kèn ống, ở đầu kèn có quét chút mạch nha. Cái tên tò he có lẽ bắt nguồn từ tiếng thổi kèn. Màu sắc của tò he có nguồn gốc từ tự nhiên: màu vàng làm từ hoa hòe hoặc củ nghệ, màu đỏ từ quả gấc hoặc dành dành, màu đen thì đốt rơm rạ hoặc dùng cây nhọ nồi, màu xanh lấy từ lá chàm hoặc lá riềng...
-
- Cheo
- Khoản tiền nhà trai nạp cho làng xã bên nhà gái khi làm lễ dạm hỏi theo tục lệ xưa.
-
- Cù nèo
- Gậy dài thường làm bằng tre, có móc hoặc mấu ở đầu để hái trái cây. Có vùng gọi là cây cù quèo.












