Căn nợ đâu xe thấu tới bên Tàu
Hay là mình thấy chốn giàu mình mê
Chủ đề: Trào phúng, phê phán đả kích
-
-
Đời bây giờ võ nghệ huyên thuyên
-
Ba đồng một mớ đàn ông
-
Vợ đôi chồng một lạ gì
Dị bản
Vợ đôi chồng một ra gì
Mỗi người mỗi bụng tao thích thì phá tan hoang
-
Bài này có từ ngữ và/hoặc nội dung nhạy cảm.
Hãy cân nhắc trước khi bấm xem.Thuyền em bán mấy anh mua cho
-
Con gái đời nay không hút thuốc ăn trầu
-
Tới đây giã gạo ăn chè
-
Gà nhà đá gà tây
-
Mất con gà em la cả xóm
Mất con gà em la cả xóm
Ba bốn ngày rồi họ đoán chẳng sai
Tại em phụ bạc duyên ai
Có tin thì cũng có vài người nghe -
Bánh tráng đem bán chợ chiều
-
Nửa đêm chó sủa ngõ ngoài
-
Đừng ai bắt chước kẻ say
-
Trời mưa làm ướt sân đình
Trời mưa làm ướt sân đình
Anh đi cho khéo trợt ình xuống đây -
Rủ nhau đi đánh bài chòi
Dị bản
Rủ nhau đi đánh bài chòi
Ở nhà con khóc nó lòi rún ra
-
Tối qua tôi đi ra gò
-
Lưng choàng áo đỏ
Lưng choàng áo đỏ
Đầu đội khăn đen
Chân đi lèng quèng
Là ông chân gãy -
Ai làm thượng hạ bất thông
-
Đi đâu mang sách đi hoài
-
Ngồi buồn nghĩ chuyện xưa nay
-
Một mai trống thủng còn vành
Một mai trống thủng còn vành
Lấy da trâu bịt lại cũng lành như xưa
Chú thích
-
- Căn nợ
- Món nợ nần của đôi trai gái từ kiếp trước phải trả trong kiếp này, theo giáo lí nhà Phật.
-
- Nguyệt Lão
- Đời nhà Đường, có một người tên là Vi Cố đi kén vợ, gặp một ông cụ ngồi dựa túi xem sách dưới bóng trăng. Anh ta hỏi, thì ông cụ bảo sách ấy chép tên những người lấy nhau và túi ấy đựng những sợi chỉ hồng (xích thằng) để buộc chân hai người phải lấy nhau, không sao gỡ ra được nữa. Anh ta hỏi phải lấy ai, thì ông cụ chỉ một đứa bé lên ba tuổi ở trong tay một người đàn bà chột mắt đem rau ra bán ở chợ mà bảo đó là vợ Vi Cố. Vi Cố giận, sai người đâm con bé ấy, nhưng nó chỉ bị thương. Mười bốn năm sau, quả nhiên Vi Cố lấy người con gái ấy. Chữ "nguyệt lão" chúng ta thường dịch nôm na là "trăng già." Hai chữ "Ông Tơ" và "Bà Nguyệt" cũng bởi tích ấy mà ra, dùng chỉ vị thần lo chuyện kết nhân duyên. Mối nhân duyên cũng do thế mà thường được gọi là "mối tơ." Xem thêm: Hình tượng Ông Tơ Bà Nguyệt trong văn hóa dân gian.
-
- Tàu
- Cách nhân dân ta gọi nước Trung Quốc hay người Trung Quốc (người Hoa), thường có ý khinh miệt. Theo học giả An Chi, chữ này có gốc từ tào 曹 (quan lại). Bác sĩ Trần Ngọc Ninh giảng là do chữ Tào là họ cuả Ngụy Tào Tháo. Lại có tên Ba Tàu, đến nay vẫn chưa thống nhất nguồn gốc của tên này.
-
- Chệch
- Từ gọi một cách bình dân, thiếu tôn trọng dành cho người Hoa sinh sống ở nước ta. Có ý kiến cho rằng từ này có gốc từ từ a chệch, cách người Triều Châu (một vùng ở Trung Quốc) gọi chú (em của bố). Hiện nay từ này hay bị viết và đọc nhầm là chệt hoặc chệc. Ở miền Bắc, từ này có một biến thể là chú Chiệc.
-
- Khi hát bài chòi, bài này được dùng để báo con Tứ Gióng.
-
- Khi hát bài chòi, bài này được dùng để báo con Tam Quăng.
-
- Khi hát bài chòi, bài này được dùng để báo con Ba Bụng.
-
- Vãng lai
- Đi lại (từ Hán Việt).
-
- Khi hát bài chòi, bài này được dùng để báo con Sáu Ghe.
-
- Khi hát bài chòi, bài này được dùng để báo con Ngũ Dụm.
-
- Trợt ăn
- Mất ăn (phương ngữ Trung Bộ).
-
- Khi hát bài chòi, bài này được dùng để báo con Ngũ Trợt.
-
- Khi hát bài chòi, bài này được dùng để báo con Ba Gà.
-
- Bánh tráng
- Miền Trung và miền Nam gọi là bánh tráng, miền Bắc gọi là bánh đa. Đây một dạng loại bánh làm từ bột gạo, tráng mỏng, phơi khô, khi ăn có thể nướng giòn hoặc ngâm sơ với nước cho mềm để cuốn các thức ăn khác. Ngoài ra, bánh tráng còn có thể được làm với các thành phần khác để tạo thành bánh tráng mè, bánh tráng đường, bánh tráng dừa... mỗi loại có hương vị khác nhau.
-
- Khi hát bài chòi, bài này được dùng để báo con Nhì Bánh (Bánh Hai).
-
- Khi hát bài chòi, bài này được dùng để báo con Nhì Bí.
-
- Khi hát bài chòi, bài này được dùng để báo con Ông Ầm.
-
- Bài chòi
- Một loại hình trò chơi dân gian và nghệ thuật độc đáo ở miền Trung, được tổ chức hằng năm vào dịp Tết Nguyên đán. Người ta dựng 9-11 chòi trên một bãi đất trống. Bộ bài để đánh bài chòi gồm 33 lá, với những cái tên nôm na như: Nhứt Nọc, Nhì Nghèo, Ông Ầm, Sáu Ghe, Bảy Liễu... vẽ trên giấy, dán vào thẻ tre. Vào cuộc chơi, anh hiệu (tức người hô thai) xóc ống bài, rút ra một con và xướng tên con bài lên. Để gây thêm sự hồi hộp và bắt người chơi phải suy đoán, anh hiệu hô lên một câu thai hoặc một câu ca dao có tên con bài. Chòi nào trúng tên con bài thì gõ mõ để anh hiệu mang con bài đến. Trúng ba con bài là chòi đó “tới.”
-
- Khi hát bài chòi, bài này được dùng để báo con Ngũ Rún.
-
- Gò
- Khoảng đất nổi cao lên giữa nơi bằng phẳng.
-
- Khi hát bài chòi, bài này được dùng để báo con Tứ Cẳng.
-
- Thượng hạ bất thông
- Trên dưới không được thông suốt (với nhau).
-
- Có bản chép: trắp.
-
- Khi hát bài chòi, bài này được dùng để báo con Nhứt Trò.
-
- Tày
- Bằng (từ cổ).
-
- Khi hát bài chòi, bài này được dùng để báo con Bảy Thưa.


