Tiếc nồi cơm trắng để ôi
Tiếc con người lịch mà soi gương mờ.
Tiếc nồi cơm trắng để ôi
Dị bản
Tiếc nồi cơm trắng mà khê
Tiếc con người lịch mà về tay ai
Tiếc nồi cơm trắng để ôi
Tiếc con người lịch mà soi gương mờ.
Tiếc nồi cơm trắng mà khê
Tiếc con người lịch mà về tay ai
Dẫu ngồi cửa sổ chạm rồng
Chiếu hoa nệm gấm không chồng cũng hư
Cây chanh lại nở hoa chanh
Ðể con bướm trắng bay quanh cả ngày
Tưởng rằng má phấn môi son
Ai ngờ má mỏng môi mòn hỡi em
Lấy chồng ăn những của chồng
Ăn hết con mắt, khoét lòng con ngươi
Trăng lên nhu nhú đầu non
Số em là số sớm con muộn chồng.
Chớ nghe quân tử ỉ òn
Mà rồi có lúc ẵm con một mình.
Những người thắt đáy lưng ong
Ðã khéo chiều chồng lại khéo nuôi con.
Những ngưòi béo trục béo tròn
Ăn vụng như chớp đánh con cả ngày
Ru con con ngủ cho lành
Để mẹ gánh nước rửa bành cho voi
Muốn coi lên núi mà coi
Coi Bà Triệu tướng cưỡi voi đánh cồng .
Ru con, con ngủ cho lâu
Để mẹ đi cấy ruộng sâu chưa về
Ru con, con ngủ cho mê
Mẹ còn lo chuyện lê thê kéo cày
Ru con, con ngủ cho say
Mẹ còn vất vả chân tay ngoài đồng
Ru con, con ngủ cho nồng
Mẹ còn nhổ mạ trả công cho người
Ra đường trông thấy tơ người
Về nhà trông thấy chỉ tôi tôi buồn.
Em về anh mượn khăn tay
Gói câu tình nghĩa, lâu ngày sợ quên.
Hoành qua đương hổ dị
Đối diện Bà vương nan
(Vung giáo chống cọp dễ
Giáp mặt vua Bà khó)
Theo Việt Nam sử lược, sau khi cuộc khởi nghĩa thất bại, Bà Triệu đã tuẫn tiết trên núi Tùng (xã Triệu Lộc, huyện Hậu Lộc, Thanh Hóa) vào năm Mậu Thìn (248), lúc mới 23 tuổi.