Tìm kiếm "đồng bóng"

  • Chập chiêng chập chóe

    Chập chiêng chập chóe
    Lớn lớn bé bé
    Ra đánh giặc trời
    Ông lớn cưỡi voi
    Phất cờ đi trước
    Đi lên mạn ngược
    Đi xuống mạn xuôi
    Giao bà bình vôi
    Thổi nồi cơm nếp
    Giao cho ông bếp
    Nấu nồi canh cua
    Lính tráng ăn no
    Chập chiêng chập chóe

  • Chi chi vít vít

    Chi chi vít vít
    Ổ rết ở trong
    Tổ ong ở ngoài
    Củ khoai ở giữa
    Chất lửa hai bên
    Đánh trống thổi kèn
    Chạy lên tập họp
    Cói đói hay no?
    – No
    Thả cói đi ăn
    Nghe hú thì về mạ
    Kẻo quạ tha xương
    Con mô khôn về mạ
    Con mô dại quạ cắp

  • Con cò mắc dò mà chết

    Con cò mắc dò mà chết
    Mẹ con cái diệc giã gạo làm chay
    Bồ câu mở sách xem ngày
    Cà cuống uống rượu la đà
    Con cua trong lỗ bò ra chia phần
    Chào mào mà đánh trống quân
    Chim chích ở trần vác mõ đi rao
    Tôi trình ông xã ông thôn
    Ông uống chén rượu ông chôn con cò

    Dị bản

    • Con cò chết rũ trên cây
      Cò con mở lịch xem ngày làm ma
      Cà cuống uống rượu la đà
      Chim ri ríu rít bò ra ăn phần
      Chào mào thì đánh trống quân
      Chim chích cởi trần vác mõ đi rao

    • Con cò mắc dò mà chết
      Con quạ mua nếp làm chay
      Con cu đánh trống ba ngày
      Chào mào đội mũ làm thầy đọc văn
      Xóm làng chạy đến lăng xăng
      Mua ba thước vải buộc khăn cho cò

    • Con cò đi ăn mắc dò mà chết
      Bìm bịp ở nhà mua nếp làm chay
      Cu cu gõ mõ ba ngày
      Chốc mào đội mũ, mang giày đọc văn
      Le le, vịt nước lăng xăng
      Rủ nhau đi tới bịt khăn cho cò

    • Con cò mắc dò mà chết
      Con quạ ở nhà mua nếp làm chay
      Cu cu đánh trống bằng tay
      Chào mào đội mũ làm thầy đọc văn
      Chiền chiện vừa khóc vừa lăn
      Một bầy se sẻ bịt khăn tang cò

  • Con cua mà có hai càng

    Con cua mà có hai càng
    Đầu, tai không có bò ngang cả đời
    Con cá mà có cái đuôi
    Hai vi ve vẩy nó bơi rất tài
    Con rùa mà có cái mai
    Cái cổ thụt ngắn, thụt dài vào ra
    Con voi mà có hai ngà
    Cái vòi nó cuốn đổ nhà, đổ cây
    Con chim mà có cánh bay
    Bay cùng nam, bắc, đông, tây tỏ tường

  • Con gà cục tác cục te

    Con gà cục tác cục te
    Hay đỗ đầu hè hay chạy rông rông
    Má gà thì đỏ hồng hồng
    Cái mỏ thì nhọn cái mồng thì tươi
    Cái chân hay đạp, hay bươi
    Cái cánh hay vỗ lên trời gió bay

  • Con gả con gà

    Con gả con gà
    Nó đổ trên nhà
    Bay ra đống rác
    Cục ta cục tác
    Nó nhảy vào buồng
    Lên giường nó nghỉ
    Hỡi thằng cu Tí
    Lo đi đuổi gà
    Cục ta cục tác
    Con diều hung ác
    Bay lượn trên đầu
    Gà con ở đâu?
    Về mau mẹ ủ
    Mẹ con đông đủ
    Chẳng sợ diều hâu!

    Dị bản

    • Con gả con gà
      Hắn đổ trên nhà
      Bay ra đống rác
      Cục ta cục tác
      Hắn nhảy lên chuồng
      Lên giường hắn nghỉ
      Ơ thằng cu Tí!
      Lo đuổi gà đi
      Cục ta cục tác!
      Con diều hung ác
      Bay lượn trên đầu
      Gà con ở đâu?
      Về mau mẹ ủ
      Mẹ con đông đủ
      Chẳng sợ diều hâu!
      Cục tác cục ta
      Con gà nhảy ổ
      Cái rổ đầu hè
      Vàng hoe nắng lọt
      Mẹ lót ổ gà
      Cục ta cục tác

  • Con hổ con hô

    Con hổ con hô
    To như cái bồ
    Hắn ngồi trong bụi
    Hắn vội nhảy ra
    Hắn bắt ông già
    Hắn vồ con nít
    “Thùng thùng”
    Ai ở đâu thì ra cho hết
    Đánh chết con hổ
    Con hổ con hô…

  • Con nghé nhà ta

    Con nghé nhà ta
    Chúa mới thả ra
    Ăn đâu ăn đấy
    Ăn mấy cho no
    Chúa bắt thì cho
    Khách bắt thì chạy
    Nghe lời chúa dạy
    Mới ra trâu bò
    Bờ lúa thì qua
    Bờ mạ thì tránh
    Ăn no thẳng cánh
    Tối lại rong về
    Đồng lúa nhà quê
    Chớ hề động đến
    Ăn cho có nết

  • Nghé ơ nghé ọ

    Nghé ơ nghé ọ
    Ta nuôi nghé lớn
    Ai mua nỏ bán
    Ai mượn nỏ cho
    Cỏ đã bứt cho nghé ăn no
    Nghé cày thay mẹ
    Một buổi hai đường
    Hai buổi bốn đường
    Cày dọc bừa ngang
    Cày xong ruộng toóc
    Cày nốt ruộng khoai
    Cày hai nương đỗ
    Nghé ọ nghé ơ…

  • Con nghé nhà ta

    Con nghé nhà ta
    Bốn ba bốn bảy
    Nước chảy một chiều
    Một niêu nước mắm
    Một nắm củ hành
    Một giành củ tỏi
    Bán gọi chợ Đông
    Ba đồng một cặp
    Ai gặp thì mua
    Ai mua thì bán
    Đi trưa thì nhịn
    Nghé ơi…

  • Con nít con nít

    Con nít con nít
    Cái hình nhỏ xít
    Đội mũ lá mít
    Cỡi ngựa tàu cau
    Đứa trước đứa sau
    Rủ nhau một lũ
    Ăn rồi đi ngủ
    Ngủ dậy đi chơi
    Xuống nước tập bơi
    Lên bờ đánh đá
    Miệng thổi kèn lá
    Tay xách cờ tre
    Rủ nhau hè hè
    Giả đò đánh giặc

  • Cốc, cốc, cốc

    Cốc, cốc, cốc
    Con vỏi, con voi
    Cái vòi đi trước
    Vì mày phản nước
    Ta bẻ mất ngà
    Mày bỏ ông bà
    Bỏ bầy bỏ bạn
    Bỏ cày ruộng cạn
    Bỏ cày ruộng sâu
    Tham của tham giàu

  • Cục ta cục tác

    Cục ta cục tác
    Chữ kê là gà
    Giữ cửa giữ nhà
    Chữ khuyển là chó
    Bắt chuột bắt bọ
    Chữ miêu là mèo
    Ăn cám ăn bèo
    Chữ trư là lợn
    Vừa cao vừa lớn
    Chữ tượng là voi
    Ăn trầu đỏ môi
    Chữ phật là bụt

Chú thích

  1. Mạn
    Theo học giả An Chi, mạn là biến thể ngữ âm của miện, nay đọc thành diện, có nghĩa là "mặt", rồi nghĩa phái sinh là "phía," "miền," "miệt" (như "miệt vườn")...
  2. Bình vôi
    Ngày xưa nhân dân ta thường hay ăn trầu với cau và vôi. Bình vôi là dụng cụ bằng gốm hay kim loại để đựng vôi ăn trầu, đôi khi được chế tác rất tinh xảo, và tùy theo hình dạng mà cũng gọi là ống vôi.

    Bình vôi bằng gốm làng Dưỡng Động (Hải Phòng)

    Bình vôi bằng gốm làng Dưỡng Động (Hải Phòng)

  3. Rết
    Một loài động vật thân đốt, mình dài, có rất nhiều chân. Rết có nọc độc, có thể làm chết người.

    Con rết

    Con rết

  4. Cói
    Cũng gọi là coi cói, một loài chim bề ngoài giống cò nhưng nhỏ hơn. Thịt cói được chế biến thành nhiều món ăn dân dã.

    Chim cói

    Chim cói

  5. Mạ
    Mẹ (phương ngữ Bắc Trung Bộ).
  6. Quạ
    Còn gọi là ác, loài chim có bộ lông màu đen đặc trưng, ăn tạp. Theo mê tín dân gian, quạ có thể đem lại điềm xui xẻo.

    Con quạ

    Con quạ

  7. Đâu, nào (phương ngữ Trung Bộ).
  8. Cá thu
    Loại cá biển, thân dài, thon, không có hoặc có rất ít vảy. Từ cá thu chế biến ra được nhiều món ăn ngon.

    Cá thu

    Cá thu

  9. Đồng Nai
    Tên gọi chung của toàn thể miền đồng bằng Nam Bộ, phổ biến vào thế kỉ 19 trở về trước, nay được giới hạn để chỉ một tỉnh thuộc vùng Đông Nam Bộ. Lịch sử của Đồng Nai gắn liền với lịch sử của vùng đất Nam Bộ, khi có làn sóng di dân từ Bắc vào Nam trong cuộc Trịnh-Nguyễn phân tranh vào thế kỉ 16. Hiện nay Đồng Nai là cửa ngõ đi vào vùng kinh tế Đông Nam Bộ, đồng thời là một trong ba mũi nhọn kinh tế miền Nam cùng với thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Bình Dương.

    Văn miếu Trấn Biên - di tích tiêu biểu của Đồng Nai

    Văn miếu Trấn Biên - di tích tiêu biểu của Đồng Nai

  10. Bến Nghé
    Địa danh ban đầu là tên đoạn sông Sài Gòn, đoạn chảy qua thành phố Hồ Chí Minh ngày nay, sau đó được dùng để chỉ vùng trung tâm Sài Gòn. Hiện nay Bến Nghé là tên một phường thuộc quận 1, thành phố Hồ Chí Minh. Để giải thích cái tên Bến Nghé, hiện có hai thuyết:

    1. Theo phó bảng Nguyễn Văn Siêu trong cuốn Phương Đình dư địa chí (1900) thì: tục truyền sông này nhiều cá sấu, từng đàn đuổi nhau kêu gầm như tiếng trâu rống, cho nên gọi tên như thế. Sách Đại Nam nhất thống chí, phần tỉnh Gia Định, cũng chép tương tự.
    2. Theo học giả Trương Vĩnh Ký: Bến Nghé có nguồn gốc từ tiếng Khmer: Kompong: bến, Kon Krabei: con trâu. (Le Cisbassac, tr. 192). Nhà địa danh học Lê Trung Hoa cũng đồng ý rằng: Bến Nghé là cái bến mà "người ta thường cho trâu, bò ra tắm."

    Trước đây, nhắc đến vùng Đồng Nai - Bến Nghé nghĩa là nhắc đến cả vùng đất Nam Bộ.

    Bến Nghé của tiền tan bọt nước
    Đồng Nai tranh ngói nhuốm màu mây

    (Chạy Tây - Nguyễn Đình Chiểu)

    Một đoạn sông Sài Gòn (Bến Nghé) ngày nay

    Một đoạn sông Sài Gòn (Bến Nghé) ngày nay

  11. Đa
    Một loại cây thân thuộc, được coi như biểu tượng của làng quê Việt Nam, cùng với giếng nước và sân đình. Cây đa cổ thụ có tán rất rộng, có nhiều gốc và rễ phụ. Ở một số địa phương, cây đa còn được gọi là cây đa đa, hoặc cây da. Theo học giả An Chi, tên cây bắt nguồn từ đa căn thụ 多根樹 (cây nhiều rễ), “một hình thức dân dã mà văn chương Phật giáo dùng để mô tả và gọi tên cây một cách súc tích nhất có thể có.”

    Cây đa Tân Trào

    Cây đa Tân Trào

  12. Cào cào
    Một loại côn trùng ăn lá, có đầu nhọn (khác với một loại côn trùng tương tự có đầu bằng gọi là châu chấu). Cào cào thường sống ở các ruộng lúa, rau và ăn lá lúa, lá rau, gây thiệt hại tới mùa màng.

    Cào cào

    Cào cào

  13. Sơn ca
    Cũng gọi là chiền chiện, chà chiện ở Quảng Nam hoặc cà lơi ở Huế, một giống chim thuộc họ chim sẻ, có tiếng hót lảnh lót và kiểu bay liệng lạ mắt. Loài này thường làm tổ ở mặt đất hoặc nơi không cao lắm so với mặt đất. Thức ăn chính là côn trùng.

    Chim sơn ca

    Chim sơn ca

  14. Châu chấu
    Loại côn trùng nhỏ, chuyên ăn lá, có cánh màng, hai chân sau rất khỏe dùng để búng.

    Châu chấu

    Châu chấu

  15. Ngọc Hoàng Thượng Đế
    Thường được gọi tắt là Ngọc Hoàng, cũng gọi là Ngọc Đế hoặc Thiên Đế, vị vua tối cao của bầu trời, cai quản Thiên đình trong quan niệm của Trung Quốc và Việt Nam. Theo thần thoại, Ngọc Hoàng Thượng Đế là người trần, tu luyện một nghìn bảy trăm năm mươi kiếp, mỗi kiếp mười hai vạn chín nghìn sáu trăm năm. Ngọc Hoàng cai quản toàn bộ lục giới : Nhân, Thần, Ma, Yêu, Quỷ, Tiên.

    Hình tượng Ngọc Hoàng

    Hình tượng Ngọc Hoàng

  16. Động Từ Thức
    Còn gọi là động Bích Đào, một hệ thống hang động núi đá vôi với nhiều nhũ đá, hiện thuộc xã Nga Thiện, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Đây là nơi gắn liền với tích Từ Thức gặp tiên.

    Động Từ Thức

    Động Từ Thức

  17. Hang Bạch Á
    Một cái hang gần động Từ Thức, thuộc xã Nga Thiện, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
  18. Bẫy dò
    Gọi tắt là dò, một loại bẫy đặt dưới đất đễ bẫy các loại chim, gà rừng. Bẫy dò được làm rất công phu bằng những sợi mây cực dẻo, kết hợp với những sợi thòng lọng làm bằng các loại dây mảnh và chắc (dây gai, tơ tằm…), cài trên những vùng các loại chim hay qua lại kiếm ăn. Dò có nhiều cỡ: lớn, nhỏ, dài, ngắn… để đánh bắt các loại chim khác nhau.

    Hình vẽ bẫy dò

    Hình vẽ bẫy dò

  19. Diệc
    Một loài chim giống như cò, thức ăn chủ yếu là côn trùng, cá... Diệc mốc có bộ lông màu nâu. Ngoài ra còn có diệc ba màu, diệc xanh...

    Chim diệc đang bắt cá

    Chim diệc đang bắt cá

  20. Làm chay
    Làm lễ cúng để cầu cho linh hồn người chết được siêu thoát, theo quan niệm dân gian.
  21. Bồ câu
    Cũng gọi là chim cu, loài chim có cánh dài, bay giỏi, mỏ yếu, mắt tròn đẹp và sáng, được nuôi làm cảnh và lấy thịt. Nhờ nhớ đường và định hướng rất tốt nên trước đây chúng thường được huấn luyện để đưa thư.

    Chim bồ câu

    Chim bồ câu

  22. Cà cuống
    Loài bọ cánh nửa, sống ở nước, phần ngực con đực có hai túi chứa tinh dầu mùi thơm, vị cay, dùng làm gia vị.

    Con cà cuống

    Con cà cuống

  23. Chào mào
    Cũng gọi là chóp mào hay chốc mào, một loài chim có mào nhọn trên đầu, hai bên má có lông trắng.

    Chim chào mào

    Chim chào mào

  24. Hát trống quân
    Hình thức sinh hoạt ca hát giao duyên phổ biến ở các tỉnh đồng bằng và trung du Việt Nam, kể từ Thanh Hóa trở ra Bắc. Hát trống quân ở mỗi địa phương có khác nhau về làn điệu, lối hát và thời điểm hát, nhưng đều mang một số điểm chung như: những người tham gia chia thành hai bên "hát xướng" và "hát đáp", lời ca thường mang tính ứng đối, sử dụng trống dẫn nhịp gọi là "trống thùng", giữa những câu đối đáp có đoạn ngừng gọi là "lưu không".

    Hát trống quân thường được tổ chức vào rằm tháng bảy, tháng tám âm lịch, ngoài ra còn được tổ chức hát thi vào những ngày hội. Trong những ngày mùa, vào chiều tối, những người thợ gặt ở nơi khác đến thường tổ chức hát với nhau hoặc với trai gái trong làng.

    Hát trống quân

    Hát trống quân

    Xem phóng sự Hát trống quân - Nét dân ca của đồng bằng Bắc Bộ.

  25. Chim chích
    Tên chung của một họ chim có lông màu sáng, với phần trên có màu xanh lục hay xám và phần dưới màu trắng, vàng hay xám. Phần đầu của chúng thông thường có màu hạt dẻ.

    Chim chích bông

    Chim chích bông

  26. Một loại nhạc khí thường làm bằng gỗ, khi gõ có tiếng vang. Trong đạo Phật, Phật tử gõ mõ khi tụng kinh. Ở làng quê Việt Nam xưa, khi muốn thông báo gì thì người ta gõ mõ. Người chuyên làm công việc đánh mõ rao việc làng cũng gọi là mõ.

    Mõ

  27. Chim ri
    Một loài chim như chim sẻ, ăn thóc gạo và các loại hạt. Văn học thường dùng các thành ngữ "khóc như ri," "nổi như ri..."

    Chim ri

    Chim ri

  28. Nếp
    Loại lúa cho hạt gạo hạt to và trắng, nấu chín thì trong và dẻo, thường dùng thổi xôi, làm bánh.

    Xôi nếp

    Xôi nếp

  29. Bìm bịp
    Tên chung để chỉ khoảng 30 loài chim do tiếng kêu của chúng tương tự như "bìm bịp" vào mùa sinh sản. Bìm bịp có lông cánh màu nâu như áo của thầy tu.

    Một con bìm bịp

    Một con bìm bịp

  30. Le le
    Tên một loài chim gần giống vịt trời, hay kiếm ăn ở vùng đồng ruộng hay bưng biền, gặp nhiều ở vùng Đồng Tháp Mười.

    Con le le

    Con le le

  31. Kếu
    Tức chim sếu, loài chim lớn, có cổ và chân dài. Sếu sống theo đàn, và cứ mỗi mùa đông thì cả đàn bay về phương Nam tránh rét.

    Đàn sếu

    Đàn sếu

  32. Có bản chép: Hai vây.
  33. Diều hâu
    Loài chim dữ, mỏ quặp, có thị lực rất sắc bén, hay bắt gà, chuột, rắn.

    Một loại diều hâu

    Một loại diều hâu

  34. Bồ
    Đồ cỡ lớn đựng thóc lúa, thường đan bằng tre.

    Bồ và cối xay thóc

    Bồ và cối xay thóc

  35. Chúa
    Chủ, vua.
  36. Nỏ
    Không, chẳng (phương ngữ Trung Bộ).
  37. Toóc
    Rạ (phương ngữ miền Trung).
  38. Niêu
    Nồi nhỏ bằng đất nung hoặc đồng, có nắp đậy, dùng để nấu nướng hoặc sắc thuốc. Niêu sắc thuốc thì có thêm cái vòi để rót thuốc.

    Cơm niêu

    Cơm niêu

  39. Giành
    Còn gọi là trác, đồ đan bằng tre nứa hoặc mây, đáy phẳng, thành cao, thường dùng để chứa nông sản, gặp ở miền Bắc và một số tỉnh Bắc Trung Bộ.

    Cái giành

    Cái giành

  40. Kèn lá
    Một loại nhạc cụ đơn giản của một số dân tộc miền núi, chỉ gồm một chiếc lá cây được cắt phần cuống, gấp đôi theo sống lá. Thường người ta chọn những lá có bề mặt rộng, bóng nhẵn, không có răng cưa.

    Thổi kèn lá

    Thổi kèn lá

  41. Giả đò
    Giả vờ (phương ngữ Trung và Nam Bộ).
  42. Rệt
    Rượt, đuổi bắt (phương ngữ).
  43. Liệt
    Mỏi mệt, rã rời.
  44. Nỏ
    Một loại vũ khí cổ truyền thường được dùng trong săn bắn và chiến tranh trước đây. Một chiếc nỏ đơn giản gồm một cánh nỏ nằm ngang hơi cong, đẽo từ một loại gỗ có sức đàn hồi cao, lắp vào báng nỏ có xẻ rãnh để đặt mũi tên. Trước khi bắn, cánh nỏ bị uốn cong bằng cách kéo căng và gài dây cung vào lẫy nỏ. Khi bóp cò, sức đàn hồi của cánh nỏ bắn mũi tên ra với sức đâm xuyên lớn và độ chính xác cao. Cây nỏ nổi tiếng trong lịch sử dân tộc ta với truyền thuyết nỏ thần của An Dương Vương, bắn một phát ra nhiều mũi tên đồng, đánh lui quân xâm lược. Trong kháng chiến chống Pháp, nhiều dân tộc Tây Nguyên đã dùng nỏ giết được nhiều quân địch.

    Ở một số vùng, nỏ cũng được gọi là ná (lưu ý phân biệt với cái bắn đạn sỏi).

    Bắn nỏ

    Bắn nỏ

  45. Chạc
    Dây bện bằng lạt tre, lạt nứa, ngắn và nhỏ hơn dây thừng.
  46. Bụt
    Cách gọi dân gian của Phật, bắt nguồn từ cách phiên âm từ Buddha (bậc giác ngộ - Phật) trong tiếng Ấn Độ.