Bạc tình chi lắm ngãi nhân
Chưa bao lăm ngày tháng, lo thay đờn đổi dây
Ngẫu nhiên
-
-
Cửa Bổn là Cửa Bổn còi
-
Ráng vàng trời nắng, ráng trắng trời mưa
-
Một cây có cành bổng cành la
-
Lý Sơn đồng trước đồng sau
-
Giếng đâu thì ếch đó
Giếng đâu thì ếch đó
-
Mây răng bừa, hai ba bữa thì mưa
-
Tay cầm một nắm bo bo
-
Phiên rằm chợ chính Yên Quang
-
Anh với tôi làm đôi sao xứng
-
Cá dưới sông con trừng, con lội
-
Cây xanh mà lá cũng xanh
-
Nhà kia có bụi dành dành,
-
Bồng em đi dạo vườn cà
-
Có oản anh tình phụ xôi
Có oản anh tình phụ xôi
Có cam phụ quýt, có người phụ ta
Có quán tình phụ cây đa
Ba năm quán đổ cây đa vẫn còn
Có mực anh phụ tình son
Có kẻ đẹp giòn anh phụ nhân duyên
Có bạc anh tình phụ tiền
Có nhân ngãi mới anh quên em rồiDị bản
Có bạc em tình phụ tiền
Có nhân ngãi mới em quên anh rồi
Có oản em tình phụ xôi
Có cam phụ quýt, có người phụ ta
Có quán tình phụ bóng đa
Ba năm quán đổ, cây đa vẫn còn
-
Nợ dương trần trả lần không hết
-
Lạy ông nắng lên
Lạy ông nắng lên
Cho trẻ nó chơi
Cho già bắt rận
Cho tôi đi càyDị bản
Nắng lên cho trẻ nó chơi
Cho già bắt rận cho tôi đi cày
-
Thân trâu trâu lo, thân bò bò liệu
Thân trâu trâu lo,
Thân bò bò liệu -
Miếng trầu ăn kết làm đôi
Miếng trầu ăn kết làm đôi
Lá trầu là vợ, cau tươi là chồng
Trầu xanh, cau trắng cay nồng
Vôi pha với nghĩa, thuốc nồng với duyên -
Mẹ mười con, con cũng mười con
Chú thích
-
- Nhân ngãi
- Người thương, người tình (từ cổ). Cũng nói nhân ngãi, ngỡi nhân.
-
- Đờn
- Đàn (phương ngữ Trung và Nam Bộ).
-
- Hải sâm
- Tên dân gian là đồn đột, đột ngậu, đồm độp, đỉa biển hay nhím biển, là tên gọi chung của một nhóm động vật biển có thân hình thuôn dài, da có lông, có xương trong nằm ngay dưới da. Hải sâm được xem là một loại thức ăn rất bổ dưỡng và có nhiều công dụng trị bệnh.
-
-
- La
- Thấp, gần mặt đất.
-
- Lý Sơn
- Địa danh nay là một huyện đảo thuộc tỉnh Quảng Ngãi. Đây là một cụm đảo gồm Lý Sơn (tên dân gian là cù lao Ré), hòn Bé (cù lao Bờ Bãi) nằm ở phía Bắc, và hòn Mù Cu ở phía Đông. Trong số ba đảo này thì cù lao Ré là đảo lớn nhất. Sở dĩ có tên gọi như vậy vì xưa kia dân đảo này dùng nhiều dây ré dùng để buộc đồ rất dai và bền chắc. Đại Nam nhất thống chí chép: “Cù Lao Ré ở giữa biển, cách huyện Bình Sơn 65 dặm về hướng Đông, xung quanh núi cao, ở giữa trũng xuống ước mấy chục mẫu, nhân dân hai phường Vĩnh An và An Hải ở tại đây. Phía Đông Bắc có động, trên động có chùa mấy gian, có giếng đá, bên hữu động có giếng nước trong veo, chung quanh cây cối xanh tươi...”.
Đây là một địa điểm du lịch rất đẹp, đồng thời nổi tiếng với đặc sản gỏi tỏi, được mệnh danh là "vương quốc tỏi."
-
- Mây răng bừa, hai ba bữa thì mưa
- Cũng chẳng phải nhờ ai nói trước, mà do mấy kinh nghiệm học được của mấy cụ già ngư dân vùng biển ngày tôi còn làm nghề đạc điền. Nay thấy chân trời phía đông đã đùn lên những vòm mây thì sực nhớ câu: "Mây răng bừa, hai ba bữa thì mưa" nên tôi đưa khách đi xem lăng tẩm trước. (Hồi kí nhà văn Thanh Tịnh)
-
- Trào
- Triều (từ cũ).
-
- Yên Quang
- Tên làng nay là khu vực đầu phố Cửa Bắc đến đền Quán Thánh, Hà Nội, nằm về phía nam hồ Trúc Bạch.
-
- Đồng cân
- Nặng bằng nhau, nghĩa bóng là có giá trị ngang nhau hoặc xứng đôi vừa lứa với nhau.
-
- Trừng
- Nổi lên, dâng lên (phương ngữ Bình Định - Phú Yên).
-
- Canh
- Đơn vị tính thời gian ban đêm ngày xưa. Người xưa chia một đêm ra thành năm canh (đêm năm canh, ngày sáu khắc). Theo đó, canh một là giờ Tuất (19-21h), canh hai là giờ Hợi (21-23h), canh ba là giờ Tí (23h-1h sáng), canh tư là giờ Sửu (1h-3h), canh năm là giờ Dần (3h-5h). Mỗi lúc sang canh thường có trống điểm, gọi là trống canh.
-
- Dành dành
- Còn tên gọi khác là chi tử, huỳnh can, là một loại cây mọc hoang ở rừng, được các nhà nghiên cứu thảo dược phát hiện đưa về trồng trong vườn thuốc. Cây dành dành là một vị thuốc quý chuyên trị các bệnh về gan, mật, đặc biệt là các chứng đau mắt.
-
- Oản
- Bánh làm bằng xôi nếp hoặc bột bánh khảo nén vào khuôn hình nón cụt để cúng.
-
- Đa
- Một loại cây thân thuộc, được coi như biểu tượng của làng quê Việt Nam, cùng với giếng nước và sân đình. Cây đa cổ thụ có tán rất rộng, có nhiều gốc và rễ phụ. Ở một số địa phương, cây đa còn được gọi là cây đa đa, hoặc cây da. Theo học giả An Chi, tên cây bắt nguồn từ đa căn thụ 多根樹 (cây nhiều rễ), “một hình thức dân dã mà văn chương Phật giáo dùng để mô tả và gọi tên cây một cách súc tích nhất có thể có.”
-
- Giòn
- Xinh đẹp, dễ coi (từ cổ).
-
- Lần
- Dần dần (phương ngữ Trung và Nam Bộ).






